Thời sự

GS.TS Võ Xuân Vinh: An ninh năng lượng quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế

Hoàng Bắc 17/07/2026 12:36

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030 tổng công suất nguồn điện của Việt Nam dự kiến đạt khoảng 183-236 GW, gần gấp đôi hiện nay.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành điện cần huy động khoảng 136 tỉ USD cho phát triển nguồn và lưới điện trong giai đoạn 2026-2030. Trong bối cảnh nhu cầu điện được dự báo tăng bình quân 10-12% mỗi năm, cùng áp lực từ AI, trung tâm dữ liệu, công nghiệp bán dẫn và mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, bài toán an ninh năng lượng không còn đơn thuần là bảo đảm đủ điện.

1784255369462_5789927097490410564_g1109721031294872699_018211c02194c50fefc4eea8439a943e.jpg
GS. TS Võ Xuân Vinh tại Hội thảo "An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng".

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới bên lề Hội thảo Hội thảo "An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng" tại TP.HCM, GS.TS Võ Xuân Vinh - Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh doanh (Đại học Kinh tế TP.HCM) cho rằng, đây là bài toán về năng lực cạnh tranh quốc gia, đòi hỏi phải cải cách đồng thời thị trường điện, thể chế, hạ tầng và cơ chế huy động nguồn lực xã hội.

An ninh năng lượng không chỉ là đủ điện

- Thưa ông, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt ra mục tiêu rất lớn cho ngành năng lượng trong giai đoạn đến năm 2030. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất đối với an ninh năng lượng của Việt Nam?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Nếu trước đây chúng ta thường hiểu an ninh năng lượng là bảo đảm đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt thì hiện nay khái niệm này đã thay đổi rất nhiều. Trong bối cảnh mới, an ninh năng lượng không còn là câu chuyện riêng của ngành điện mà đã trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

1784255819590_5789927097490410564_g1109721031294872699_1ca4a00c25c8c717c6a08d7340a1889e.jpg
GS.TS Võ Xuân Vinh cho rằng, an ninh năng lượng không chỉ là đủ điện

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao, phát triển công nghiệp công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, trung tâm dữ liệu và kinh tế số. Đây đều là những ngành có cường độ sử dụng điện rất lớn, yêu cầu nguồn điện không chỉ ổn định mà còn có chất lượng cao, độ tin cậy lớn và ngày càng phải đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 183-236 GW, trong khi điện thương phẩm ước đạt 500-557 tỉ kWh, gần gấp đôi hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu đó, Việt Nam cần huy động khoảng 136 tỉ USD đầu tư cho phát triển nguồn điện và lưới truyền tải chỉ trong giai đoạn 2026-2030. Đây là quy mô đầu tư rất lớn đòi hỏi phải huy động mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế.

Ở chiều ngược lại, hệ thống năng lượng cũng đang đối mặt với nhiều sức ép về nguồn nhiên liệu, trong khi nhu cầu nhập khẩu than và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) sẽ tăng lên trong nhiều năm tới.

Bên cạnh đó, những thị trường xuất khẩu lớn như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ hay Nhật Bản ngày càng yêu cầu doanh nghiệp sử dụng năng lượng sạch, giảm phát thải carbon và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.

Vì vậy, nếu nhìn toàn diện, bài toán an ninh năng lượng đến năm 2030 không chỉ là bảo đảm đủ điện mà là cân bằng đồng thời bốn mục tiêu: bảo đảm nguồn cung, duy trì chi phí hợp lý, giảm phụ thuộc vào bên ngoài và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Đó cũng là nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng nhanh trong giai đoạn tới.

Ba nút thắt cản trở quá trình chuyển dịch năng lượng

- Nhiều tổ chức quốc tế hiện đánh giá an ninh năng lượng theo khung 4A. Theo ông, cách tiếp cận này cho thấy những điểm nghẽn nào của Việt Nam?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Khung 4A gồm bốn yếu tố là Availability (khả năng bảo đảm nguồn cung), Accessibility (khả năng tiếp cận nguồn năng lượng), Affordability (khả năng chi trả) và Acceptability (mức độ chấp nhận về môi trường và xã hội). Đây là cách tiếp cận khá toàn diện vì không chỉ đánh giá hệ thống điện có đủ công suất hay không, mà còn xem xét chi phí, mức độ bền vững và khả năng chống chịu của cả hệ thống.

1784256209776_5789927097490410564_g1109721031294872699_54ee06e1f3e9158adb212fdfdf5a667f.jpg
GS.TS Võ Xuân Vinh bắt tay với Nhà báo Lưu Quang Định- Tổng biên tập Tạp chí Một Thế Giới

Từ cách tiếp cận 4A, theo tôi có thể quy các thách thức hiện nay về ba nút thắt mang tính cấu trúc, gồm tài chính, thể chế và hạ tầng.

Đây không phải là ba vấn đề tồn tại độc lập mà có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy, nhiều tổ chức như Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đều cho rằng các quốc gia đang chuyển dịch năng lượng không thể chỉ giải quyết từng vấn đề riêng lẻ mà phải tiếp cận theo hướng "chuyển đổi hệ thống". Nghĩa là cải cách đồng thời thị trường điện, hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng và xây dựng cơ chế huy động vốn dài hạn.

Đối với Việt Nam, đây không chỉ là yêu cầu của riêng ngành năng lượng mà còn là điều kiện để duy trì tốc độ tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

- Trong ba nút thắt đó, vì sao ông cho rằng tài chính và thể chế cần được ưu tiên tháo gỡ trước để khơi thông đầu tư cho ngành năng lượng?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Theo tôi, tài chính là điểm khởi đầu của nhiều vấn đề mà ngành năng lượng Việt Nam đang đối mặt. Muốn phát triển nguồn điện, nâng cấp lưới truyền tải hay đầu tư các công nghệ mới thì trước hết phải có dòng vốn. Mà muốn có dòng vốn thì thị trường phải đủ hấp dẫn và môi trường chính sách phải tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.

1784261738063_5789927097490410564_g1109721031294872699_1d56a837ea1eba9d213c4a50b87ba75a.jpg
Các chuyên gia, đại biểu tham gia thảo luận tại hội thảo

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030 Việt Nam cần khoảng 136 tỉ USD để phát triển nguồn và lưới điện, bình quân hơn 27 tỉ USD mỗi năm. Đây là quy mô đầu tư rất lớn nên khu vực tư nhân và dòng vốn quốc tế sẽ giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển ngành điện.

Tuy nhiên, muốn thu hút được nguồn vốn này thì trước hết thị trường phải có cơ chế tài chính hợp lý. Trong nhiều năm qua, chính sách giá điện đã góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất và ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là mục tiêu rất quan trọng.

Trong các dự án năng lượng quy mô lớn, các tổ chức tài chính quốc tế luôn đánh giá rất kĩ năng lực của bên mua điện. Nếu rủi ro thanh toán tăng lên thì chi phí vốn cũng tăng theo, thậm chí nhiều dự án sẽ khó tiếp cận nguồn tín dụng dài hạn. Điều này ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường chứ không chỉ riêng một doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cải cách tài chính phải đi cùng cải cách thể chế. Đặc thù của các dự án điện là vòng đời đầu tư rất dài, có thể kéo dài từ 20 đến 30 năm, nên điều nhà đầu tư quan tâm nhất không phải là ưu đãi ngắn hạn mà là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách.

Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều bước tiến trong hoàn thiện khung pháp lí. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và quá trình triển khai trên thực tế vẫn còn khá lớn. Chẳng hạn, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đã được ban hành nhưng cần tiếp tục hoàn thiện để vận hành hiệu quả. Một số điều khoản trong hợp đồng mua bán điện cũng cần được điều chỉnh theo thông lệ quốc tế, nhất là các quy định về chia sẻ rủi ro, nghĩa vụ thanh toán, bồi thường khi cắt giảm công suất hay rủi ro tỉ giá.

Đây đều là những yếu tố quyết định khả năng huy động vốn theo mô hình Project Finance, hình thức tài trợ đang được sử dụng phổ biến cho các dự án điện trên thế giới. Khi môi trường pháp lý minh bạch và ổn định hơn, chi phí vốn sẽ giảm xuống, qua đó tạo điều kiện để nhiều dự án được triển khai nhanh hơn.

Điện gió ngoài khơi là ví dụ điển hình. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển khoảng 6 GW điện gió ngoài khơi vào năm 2030 và hướng tới 70-91 GW vào năm 2050. Tuy nhiên, từ khảo sát, lập quy hoạch, cấp phép đến khi vận hành, một dự án thường mất từ 6 đến 10 năm. Điều đó có nghĩa, nếu thể chế không đi trước một bước thì rất khó đạt được các mục tiêu đã đặt ra.

Tôi cho rằng, Việt Nam cần xây dựng các dự án có chất lượng, có tính khả thi tài chính và quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế. Đồng thời, cần tận dụng hiệu quả các nguồn lực như JETP, vốn ODA và các công cụ bảo lãnh của Nhà nước để tạo hiệu ứng dẫn dắt, từ đó huy động lượng vốn tư nhân lớn hơn nhiều lần.

Hạ tầng năng lượng là nền tảng cho tăng trưởng xanh và kinh tế số

- Ngoài câu chuyện vốn và thể chế, hạ tầng cũng được xem là điểm nghẽn lớn của ngành điện. Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những giải pháp nào để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa đáp ứng nhu cầu điện của AI, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Tôi cho rằng một trong những nghịch lí lớn nhất của ngành năng lượng Việt Nam hiện nay là có nơi phát triển rất nhanh các dự án điện gió và điện mặt trời nhưng lại không thể khai thác hết công suất vì lưới truyền tải chưa theo kịp. Điều này cho thấy đầu tư vào hạ tầng truyền tải ngày nay có ý nghĩa không kém đầu tư vào nguồn phát.

1784258488622_5789927097490410564_g1109721031294872699_6f420ad7d189a0adfb19506fcc27237d.jpg
Hội thảo thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia khoa học, sinh viên các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn TP.HCM

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), trong quá trình chuyển dịch năng lượng, lưới điện sẽ trở thành "xương sống" của toàn bộ hệ thống. Nếu không có lưới điện đủ mạnh thì dù bổ sung thêm bao nhiêu nguồn điện tái tạo cũng rất khó phát huy hiệu quả.

Theo tôi, Việt Nam cần ưu tiên ba nhóm hạ tầng.

Thứ nhất là hệ thống truyền tải liên vùng, đặc biệt là các tuyến 500 kV và từng bước nghiên cứu áp dụng công nghệ truyền tải một chiều điện áp cao (HVDC) để giảm tổn thất và nâng cao khả năng truyền tải điện trên khoảng cách lớn.

Thứ hai là hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS). Khi tỉ trọng điện gió và điện mặt trời ngày càng tăng, lưu trữ điện sẽ trở thành cấu phần không thể thiếu để cân bằng phụ tải, giảm cắt giảm công suất và nâng cao tính linh hoạt của hệ thống. Hiện nay Việt Nam mới ở giai đoạn đầu phát triển lĩnh vực này, trong khi nhiều quốc gia đã coi BESS là hạ tầng thiết yếu của hệ thống điện hiện đại.

Thứ ba là phát triển đồng bộ hạ tầng phục vụ LNG và điện gió ngoài khơi. Không chỉ đầu tư nhà máy điện mà còn phải xây dựng cảng nhập khẩu, kho chứa, trạm tái hóa khí, cảng chuyên dụng, cơ sở chế tạo thiết bị, dịch vụ logistics và nguồn nhân lực kỹ thuật. Nếu thiếu những mắt xích này thì hiệu quả của toàn bộ chuỗi đầu tư sẽ bị hạn chế.

Một yếu tố mới cũng cần được tính đến là sự bùng nổ của AI và trung tâm dữ liệu. Theo dự báo của IEA, đến năm 2030, nhu cầu điện của các trung tâm dữ liệu trên toàn cầu có thể tăng hơn gấp đôi. Đây là cơ hội để thúc đẩy chuyển dịch năng lượng. Xu hướng hiện nay là nhiều tập đoàn công nghệ kí hợp đồng mua bán điện trực tiếp với các dự án năng lượng tái tạo nhằm bảo đảm nguồn điện xanh cho hoạt động của mình. Nếu tận dụng tốt cơ chế này, Việt Nam vừa có thể thu hút thêm đầu tư vào năng lượng sạch, vừa giảm áp lực cho lưới điện quốc gia và nâng cao sức cạnh tranh trong thu hút các ngành công nghệ cao.

- Theo ông, Việt Nam cần làm gì trong giai đoạn 2026-2030 để vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa biến đây thành lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Theo tôi, giai đoạn 2026-2030 sẽ có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam. Đây không chỉ là giai đoạn triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh mà còn là thời điểm chúng ta phải chuẩn bị nền tảng cho mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao hơn.

Tôi cho rằng có ba ưu tiên lớn cần được thực hiện đồng thời.

Thứ nhất, tiếp tục cải cách thị trường điện theo hướng minh bạch, cạnh tranh và phản ánh đúng tín hiệu thị trường. Giá điện cần từng bước tiệm cận chi phí thực tế để tạo động lực đầu tư, nhưng phải đi kèm các chính sách hỗ trợ có mục tiêu đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương. Đây là cách nhiều quốc gia đã áp dụng để vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa duy trì khả năng phát triển của ngành điện.

Thứ hai, hoàn thiện môi trường pháp lí theo hướng ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Đối với các dự án có vòng đời hàng chục năm, sự ổn định của chính sách quan trọng không kém các ưu đãi về tài chính. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), hợp đồng mua bán điện theo chuẩn quốc tế, đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp để giảm chi phí vốn và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư.

Thứ ba, ưu tiên đầu tư vào hạ tầng chiến lược, gồm lưới điện truyền tải, hệ thống lưu trữ năng lượng, hạ tầng LNG, điện gió ngoài khơi và lưới điện thông minh. Đây sẽ là nền tảng để tích hợp ngày càng nhiều nguồn năng lượng tái tạo và nâng cao khả năng vận hành an toàn của hệ thống điện.

Điều quan trọng là ba ưu tiên này phải được triển khai đồng bộ. Nếu chỉ đầu tư nguồn điện mà không phát triển lưới truyền tải thì sẽ tiếp tục xảy ra tình trạng quá tải và cắt giảm công suất. Nếu chỉ hoàn thiện thể chế mà thiếu cơ chế tài chính phù hợp thì dòng vốn vẫn khó được khơi thông. Chỉ khi ba mắt xích tài chính, thể chế và hạ tầng cùng được tháo gỡ thì hệ thống mới vận hành hiệu quả.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công, vốn ODA và các nguồn vốn từ các chương trình như JETP để tạo hiệu ứng lan tỏa. Mục tiêu không phải là Nhà nước đầu tư thay khu vực tư nhân, mà là tạo môi trường đủ minh bạch và ổn định để huy động nguồn lực xã hội với quy mô lớn hơn nhiều lần.

- Ông muốn gửi gắm thông điệp gì về an ninh năng lượng Việt Nam trong giai đoạn tới?

- GS.TS Võ Xuân Vinh: Tôi cho rằng cách nhìn về an ninh năng lượng cần thay đổi. Trước đây, chúng ta thường đặt câu hỏi "có đủ điện hay không?". Ngày nay, câu hỏi quan trọng hơn là hệ thống năng lượng có đủ sức hỗ trợ một nền kinh tế hiện đại, xanh và có khả năng cạnh tranh toàn cầu hay không.

Trong kỷ nguyên của AI, kinh tế số, trung tâm dữ liệu và công nghiệp công nghệ cao, quốc gia nào có nguồn năng lượng ổn định, chi phí hợp lý và phát triển theo hướng xanh sẽ có lợi thế lớn hơn trong thu hút đầu tư và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi. Chúng ta đã có Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, có cam kết chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP), có thị trường đủ lớn, nhu cầu điện tăng cao và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư quốc tế. Đây là một "cửa sổ cơ hội" quan trọng nhưng sẽ không kéo dài mãi.

Điều quyết định lúc này là tốc độ cải cách và hiệu quả thực thi chính sách. Nếu tháo gỡ được đồng bộ các điểm nghẽn về tài chính, thể chế và hạ tầng, Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng mà còn xây dựng được một hệ thống năng lượng hiện đại, có khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong nhiều thập niên tới.

Tôi tin rằng, trong tương lai gần, an ninh năng lượng sẽ không chỉ được đo bằng số MW công suất lắp đặt hay sản lượng điện tạo ra, mà còn bằng khả năng thu hút các ngành công nghệ cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, giảm phát thải carbon và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đó mới là thước đo quan trọng của một hệ thống năng lượng hiện đại trong thế kỷ XXI.

Hoàng Bắc