Lưới điện dân sự là ‘gót chân Achilles’ của quân đội Mỹ?
Một căn cứ quân sự có thể sở hữu tiêm kích hiện đại, radar tầm xa và mạng chỉ huy được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhưng nếu điện lưới bị cắt nhiều giờ, những năng lực đắt đỏ ấy có thể bị gián đoạn hoặc suy giảm nghiêm trọng mà đối phương chưa cần phóng một quả tên lửa nào.
Theo phân tích của hai tác giả David Gattie và Michael Hewitt trên tạp chí National Interest (Mỹ), lưới điện nước này đã trở thành phần kéo dài của hệ thống tác chiến, nhưng lại được quy hoạch chủ yếu cho nhu cầu dân sự chứ không phải cho một cuộc xung đột kéo dài.

Vũ khí hiện đại, nguồn điện nằm ngoài hàng rào
Trong các cuộc chiến thế kỉ XX, dầu mỏ vận hành xe tăng, máy bay và tàu chiến, còn than cung cấp năng lượng cho các nhà máy. Ngày nay, điện giữ vai trò sâu hơn nhiều trong quân sự khi duy trì máy chủ, mạng thông tin, radar, hệ thống làm mát, cơ sở không gian và trung tâm chỉ huy. Theo các báo cáo quốc phòng Mỹ thường được dẫn lại, điện chiếm khoảng 49% năng lượng sử dụng tại các căn cứ, còn phần lớn áp đảo lượng điện được cung cấp từ lưới dân sự. Khác với nhiên liệu có thể dự trữ trong bồn, điện rất khó tích trữ với quy mô đủ cho cả căn cứ. Máy phát dự phòng cũng thường chỉ duy trì được những hệ thống thiết yếu trong thời gian giới hạn.
Sự phụ thuộc này tạo ra một vùng trách nhiệm mờ. Bên trong hàng rào, quân đội kiểm soát chặt người, thiết bị và mạng máy tính. Nhưng điện phải đi qua nhà máy, đường dây và trạm biến áp do doanh nghiệp hoặc chính quyền địa phương quản lí, nên một đường dây gặp sự cố cách căn cứ hàng chục km vẫn có thể làm gián đoạn nhiệm vụ phía sau hàng rào.
Theo báo cáo GAO năm 2018, Bộ Quốc phòng đã tư nhân hóa gần 600 trong khoảng 2.600 hệ thống tiện ích tại các cơ sở quân sự trên toàn cầu. Cách làm này giúp giảm gánh nặng vận hành, song Văn phòng Kiểm toán chính phủ Mỹ từng cảnh báo Lầu Năm Góc chưa có đủ chỉ số theo dõi hiệu quả hợp đồng, còn việc áp yêu cầu an ninh mạng cho một số hệ thống điều khiển công nghiệp vẫn chậm chạp.
Một giờ mất điện lấy đi nhiều hơn tiền bạc
Rủi ro không nằm trên giấy. Theo GAO, riêng tài khóa 2013, Bộ Quốc phòng Mỹ ghi nhận 180 vụ gián đoạn tiện ích kéo dài từ 8 giờ trở lên, thiệt hại trung bình khoảng 220.000 USD mỗi ngày, và con số thực tế có thể còn cao hơn do cách thống kê chưa bao quát. Tại Trạm vũ khí không quân hải quân China Lake ở California, hai trận giông tháng 7/2013 làm đổ đường dây, gây mất điện 12 và 20 giờ, buộc căn cứ hủy 17 hoạt động nhiệm vụ gồm 4 cuộc thử nghiệm và 13 chuyến bay. Bão Sandy năm 2012 phá hủy hạ tầng tiện ích tại Trạm vũ khí hải quân Earle ở New Jersey, gây chi phí sửa chữa ước tính gần 26 triệu USD. Báo cáo GAO công bố tháng 2/2026 cộng dồn bức tranh, thời tiết cực đoan đã gây ít nhất 15 tỉ USD thiệt hại cho các cơ sở quân sự Mỹ trong một thập niên.

Điểm nóng hiện tại là Guam, bàn đạp then chốt ở Thái Bình Dương. Theo Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council), các căn cứ trên đảo dựa vào Cơ quan Điện lực Guam, nơi tự thừa nhận “thiếu hụt nghiêm trọng” nguồn phát, hai tổ máy lớn nhất đã 50 năm tuổi, 90% sản lượng điện đến từ nhà máy chạy dầu nhập khẩu hoàn toàn. Báo cáo kèm Đạo luật ủy quyền quốc phòng tài khóa 2025 của Quốc hội Mỹ ghi nhận tình trạng mất điện hằng tuần ngay tại cầu cảng tàu ngầm của hải quân trên đảo.
Ngoài thiên tai, lưới điện Mỹ còn đối mặt với nguy cơ bị tấn công có chủ đích. Nhiều trạm biến áp nằm ở khu vực hẻo lánh, khó bảo vệ, trong khi máy biến áp cỡ lớn có thể mất nhiều tháng mới thay thế được. Atlantic Council dẫn trường hợp Volt Typhoon, nhóm bị phía Mỹ cáo buộc xâm nhập hạ tầng trọng yếu tại Guam và lục địa Mỹ. Một nhóm khác là Salt Typhoon bị cáo buộc tấn công các mạng viễn thông quan trọng. Bộ Năng lượng Mỹ cũng cảnh báo đối thủ có thể vừa phá hoại lưới điện phục vụ quốc phòng, vừa cản trở công tác sửa chữa, khiến các đơn vị vận hành phải khôi phục hệ thống ngay trong lúc các cuộc tấn công vẫn tiếp diễn.
Khoảng cách giữa điện dân dụng và tiêu chuẩn quân sự
Điện lực dân sự được thiết kế để cân bằng độ tin cậy, giá thành và khả năng phục vụ số đông. Quân đội Mỹ đòi hỏi chuẩn khác hẳn. Theo Điều 2920 Bộ luật Mỹ, đến cuối tài khóa 2030, toàn bộ phụ tải điện phục vụ nhiệm vụ trọng yếu tại mỗi căn cứ phải đạt độ sẵn sàng tối thiểu 99,9%, và với nhiệm vụ đặc biệt quan trọng có thể lên tới 99,9999%. Hai mức này tương ứng thời gian gián đoạn tối đa khoảng 8 giờ 46 phút và chỉ hơn 31 giây trong cả năm. Vài số 9 trên giấy là khoảng cách khổng lồ về kĩ thuật, căn cứ cần nhiều đường cấp điện độc lập, nguồn dự phòng khởi động nhanh, kho nhiên liệu, hệ thống lưu trữ và khả năng vận hành khi nhiều thành phần cùng hỏng.
Trong khi tiêu chuẩn an toàn ngày càng được nâng cao, tình trạng lưới điện Mỹ lại có dấu hiệu suy yếu. Đánh giá độ tin cậy dài hạn năm 2025 của Tập đoàn Độ tin cậy điện Bắc Mỹ, công bố tháng 1/2026, cho biết khả năng bảo đảm nguồn cung trên toàn hệ thống đang giảm, khi nhiều nhà máy cũ lần lượt ngừng hoạt động trong khi các dự án mới cần nhiều năm mới hoàn thành. National Interest dẫn ước tính của viện nghiên cứu Bank of America Institute cho rằng khoảng 31% hạ tầng truyền tải và 46% hạ tầng phân phối của Mỹ đã gần hoặc vượt tuổi thọ hữu ích.
Áp lực thể hiện rõ tại PJM, đơn vị điều phối thị trường điện bán buôn và vận hành lưới điện cho hơn 67 triệu người tại 13 tiểu bang, cùng nhiều căn cứ và nhà thầu quốc phòng. Theo Reuters, cuộc đấu giá công suất cho giai đoạn 2028 - 2029 chỉ mua được lượng nguồn thấp hơn yêu cầu độ tin cậy 6.831 MW. Điều này không đồng nghĩa PJM lập tức thiếu điện, nhưng cho thấy vùng đệm dự phòng đang mỏng đi. Nhu cầu điện tăng mạnh từ các trung tâm dữ liệu AI được xem là nguyên nhân chính.
National Interest cho rằng đây là điểm yếu lớn trong thời chiến. Mỹ có thể chuyển thép, linh kiện và nhiều dây chuyền dân sự sang phục vụ quốc phòng, nhưng không thể dễ dàng làm điều tương tự với điện. Nguồn điện phải được tạo ra và tiêu thụ gần như cùng lúc, trong khi mọi lĩnh vực của xã hội đều phụ thuộc vào nó. Khi xung đột xảy ra, các căn cứ quân sự, xưởng đóng tàu, nhà máy sản xuất đạn và trung tâm AI quốc phòng sẽ phải tranh nguồn điện với hộ gia đình, bệnh viện và doanh nghiệp. Cuộc cạnh tranh ấy lại diễn ra trên một mạng lưới vốn đã chịu nhiều áp lực, trong khi chính sách năng lượng giữa các bang còn thiếu đồng bộ.
Biến căn cứ thành những “hòn đảo điện”
Lầu Năm Góc không có ý định tách hoàn toàn các căn cứ khỏi lưới điện quốc gia vì chi phí quá lớn. Thay vào đó, các căn cứ vẫn sử dụng điện dân sự trong điều kiện bình thường nhưng có thể tự chuyển sang trạng thái “hòn đảo điện” khi hệ thống bên ngoài gặp sự cố. Mô hình này dựa trên microgrid, tức mạng điện cục bộ kết hợp nguồn phát, pin lưu trữ và hệ thống điều khiển. Khi cần, microgrid có thể cô lập căn cứ và ưu tiên điện cho radar, trung tâm chỉ huy, đường băng cùng các nhiệm vụ thiết yếu. Fort Knox tại Kentucky là một ví dụ. Sau trận bão băng năm 2009, căn cứ đã xây dựng hệ thống phát điện phân tán bằng khí tự nhiên và khoảng 10.000 tấm pin mặt trời công suất 2,1 MW.
Nhưng microgrid không phải lá chắn tuyệt đối. Chúng phụ thuộc thiết bị điều khiển và phần mềm nên có thể bị tấn công mạng; máy phát khí cần đường ống, máy phát dầu cần đoàn xe tiếp liệu. National Interest cho rằng lò phản ứng mô-đun nhỏ và lò phản ứng siêu nhỏ có thể trở thành nguồn điện ổn định cho những căn cứ quan trọng, dù chi phí, cấp phép và an toàn vẫn là rào cản lớn. Trong đề xuất ngân sách tài khóa 2025, Bộ Quốc phòng đề nghị 3,8 tỉ USD cho năng lượng tại căn cứ và 3,5 tỉ USD cho năng lượng tác chiến. Về phía chính sách, National Interest nhận định lời giải không phải quốc hữu hóa ngành điện theo kiểu Trung Quốc, mà là lập cơ chế ưu tiên, rút ngắn cấp phép cho các dự án nguồn và lưới ảnh hưởng trực tiếp tới mức sẵn sàng chiến đấu.
Bài toán thực sự vì thế không phải xây một lưới điện quân sự riêng, mà là xác định phần nào của mạng điện dân sự đã trở thành hạ tầng quốc phòng trên thực tế. Một trạm biến áp không mang phù hiệu quân đội vẫn có thể quyết định radar có tiếp tục quay hay không; một công ty điện lực địa phương có thể đang nắm một phần sức mạnh tác chiến Mỹ mà chính họ chưa từng được tổ chức, chia sẻ thông tin hay bảo vệ theo tiêu chuẩn dành cho chiến tranh.

