Kinh tế

Mỹ áp thuế cao lên hàng Việt, doanh nghiệp cần phải làm gì?

Tuyết Nhung 28/07/2026 13:54

Mỹ quyết định áp mức thuế bổ sung cao nhất 12,5% lên 37% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trước sức ép gia tăng, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan quản lí cần làm gì để tự vệ và gỡ khó?

Mỹ tăng áp thuế lên 60 quốc gia

Ngày 24/7/2026 (giờ Việt Nam), Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã chính thức công bố Kết luận cuối cùng trong vụ việc điều tra theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974.

Cuộc điều tra diện rộng này hướng vào 60 nền kinh tế toàn cầu, tập trung xem xét việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả các quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.

Theo phán quyết mới nhất, USTR quyết định giữ nguyên hai mức thuế bổ sung là 10% và 12,5% so với Kết luận sơ bộ, đồng thời bổ sung cơ chế bù trừ với thuế MFN đối với một số đối tác thương mại.

Đáng chú ý, Việt Nam nằm trong nhóm 38 quốc gia và vùng lãnh thổ chịu mức thuế 12,5%, mức cao nhất trong khung phạt của USTR. Mức thuế này trực tiếp ảnh hưởng đến khoảng 37% tổng kim ngạch xuất khẩu hiện nay của Việt Nam sang thị trường Mỹ.

Phân tích về tác động trực tiếp của quyết định này, trao đổi với Một Thế Giới, chuyên gia kinh tế, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh nhận định: "Hiện nay các mặt hàng xuất nhập khẩu của chúng ta vốn đã phải chịu mức thuế rất cao. Khi bị áp thêm thuế bổ sung, giá thành sản phẩm bán ra chắc chắn tăng lên, kéo theo lượng hàng tiêu thụ giảm đi rõ rệt. Giá cao thì lượng bán giảm, trong khi đó năng lực và quy mô của lực lượng xuất nhập khẩu của chúng ta cũng đứng trước nguy cơ sụt giảm nghiêm trọng”.

img_6887.jpeg
Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh. Ảnh: NVCC

Quyết định từ USTR không chỉ là vấn đề hàng rào thuế quan đơn thuần, mà phản ánh xu hướng toàn cầu hóa mới: thương mại gắn liền với tiêu chuẩn lao động và phát triển bền vững. Nhiều thị trường lớn, đặc biệt là Mỹ và EU, đang siết chặt quy định về tính minh bạch của chuỗi cung ứng, từ nguồn gốc nguyên liệu đến điều kiện làm việc của công nhân.

Thực tế cho thấy, chuỗi cung ứng của nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn bộc lộ không ít điểm yếu. Việc quản lí lao động biến động, sử dụng lao động thời vụ, lao động trẻ tuổi hoặc thiếu hồ sơ tuân thủ minh bạch về giờ làm, tiền lương, bảo hiểm... vô tình trở thành lí do để các cơ quan thanh tra quốc tế đặt nghi vấn.

Chỉ ra những cái khó thực tế mà doanh nghiệp nội địa đang gặp phải, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh chia sẻ: "Thực ra để giải bài toán này không phải dễ. Những yếu tố như sử dụng lao động thời vụ, lao động trẻ, cùng các điều kiện cơ sở hạ tầng, quản trị khác... đều tác động trực tiếp đến quá trình xuất nhập khẩu. Giờ bảo doanh nghiệp làm sao cho vừa đúng chuẩn mực quốc tế, vừa phù hợp với thực trạng vận hành thực tế là một bài toán rất phức tạp và là khó khăn lớn hiện nay”.

Doanh nghiệp tự cứu mình: Minh bạch hồ sơ và tự chứng minh

Trước nguy cơ bị đối tác cắt giảm đơn hàng hoặc bị áp mức thuế đè nặng lên chi phí, vị chuyên gia này cho rằng doanh nghiệp không thể thụ động chờ đợi sự hỗ trợ toàn diện từ bên ngoài mà phải chủ động "tự rà soát, tự chứng minh".

Để giảm thiểu tối đa rủi ro bị áp thuế bổ sung hoặc bị điều tra riêng lẻ, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh khuyến nghị: "Trong bối cảnh này, phương án cốt lõi là các doanh nghiệp phải tự chứng minh được sự tuân thủ của mình. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng minh việc sử dụng lao động hợp pháp, đóng các khoản thuế, phí và bảo hiểm đúng quy định. Chỉ khi có đầy đủ bằng chứng minh bạch, chúng ta mới có căn cứ thực tế để đề nghị phía Mỹ xem xét giảm thuế hoặc loại trừ doanh nghiệp khỏi danh sách trừng phạt. Chẳng có cách nào khác ngoài việc phải làm chuẩn chỉ từ gốc”.

Các bước hành động cấp thiết cho doanh nghiệp xuất khẩu gồm: Kiểm tra toàn bộ các nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, đảm bảo không có yếu tố lao động cưỡng bức hoặc vi phạm tiêu chuẩn lao động.

Minh bạch hóa hợp đồng lao động, bảng lương, thời giờ làm việc, giờ làm thêm và chứng từ nộp bảo hiểm xã hội.

Chủ động áp dụng các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội uy tín (như SA8000, WRAP, SMETA) để gia tăng uy tín khi giải trình với USTR hoặc Hải quan Mỹ (CBP).

Bên cạnh nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, vai trò điều tiết, quản lí và đối thoại chính sách của các cơ quan quản lí nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc gỡ khó cho toàn ngành.

Về phía góc nhìn chuyên gia, PGS.TS Đinh Trọng Thịnh nhấn mạnh vai trò kiến tạo và giám sát của Nhà nước: “Đoạn này là một trong những vấn đề mà Nhà nước phải đứng ra gánh vác và lo liệu. Cần có sự quản lí một cách chặt chẽ. Việc kiểm tra, giám sát thường xuyên các hoạt động sử dụng lao động cũng như các khâu vận hành khác là yếu tố mà các doanh nghiệp Việt Nam bắt buộc phải quan tâm. Về phần mình, Nhà nước cần ban hành các chỉ tiêu kiểm tra, giám sát rõ ràng đối với quá trình sử dụng lao động tại doanh nghiệp, tránh để xảy ra các sai phạm rải rác làm ảnh hưởng đến uy tín của cả một ngành hàng”.

Đứng trước phán quyết của USTR, Bộ Công Thương cho biết đã và đang khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó đồng bộ.

Theo đó, trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan để trao đổi trực tiếp với phía Mỹ.

Nội dung tập trung vào việc cập nhật các cam kết, những bước tiến mạnh mẽ của Việt Nam trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nội địa liên quan đến cấm nhập khẩu và tiêu thụ hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Đồng thời, Bộ Công Thương sẽ duy trì kênh làm việc thường xuyên với USTR và các cơ quan hữu quan của Mỹ nhằm phản ánh đầy đủ, khách quan những nỗ lực thực thi pháp luật của Việt Nam. Mục tiêu tối thượng là vận động phía Mỹ áp dụng các quy định thuế quan phù hợp, thực tế, phản ánh đúng bản chất môi trường lao động và sản xuất tại Việt Nam, giảm thiểu tối đa tổn thất cho cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu.

Đã đến lúc các doanh nghiệp cần loại bỏ tư duy quản trị ngắn hạn, chuyển sang mô hình kinh doanh bền vững, minh bạch và tuân thủ chuẩn mực quốc tế. Sự chủ động tự chứng minh của doanh nghiệp kết hợp với chiến lược đàm phán, quản lí hiệu quả từ Nhà nước sẽ là "chìa khóa" giúp hàng hóa Việt Nam đứng vững trước những sóng gió bảo hộ thương mại ngày càng khắt khe.

Tuyết Nhung