TP.HCM 'trải thảm' thu hút nhân tài: Tiền cao chưa đủ, phải có 'đất' cho người giỏi
TP.HCM đang triển khai chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt, theo hướng gắn nhân lực với nhiệm vụ, sản phẩm và hiệu quả cụ thể.
Phải có bài toán lớn mới tìm người giỏi
HĐND TP.HCM đã thông qua Nghị quyết 461/NQ-HĐND, nhằm đồng bộ chính sách về thu nhập đối với chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt trên địa bàn.

Theo chính sách, người được thu hút có thể nhận hỗ trợ ban đầu đến 100 triệu đồng khi ký hợp đồng lần đầu. Mức thu nhập hằng tháng từ 30-100 triệu đồng, tùy vị trí và đối tượng.
Người kiêm nhiệm vị trí kiến trúc sư trưởng có thể được hưởng thêm 50% tiền lương tháng hiện hưởng. Với công trình nghiên cứu được nghiệm thu, mức thưởng có thể bằng 5% tổng kinh phí ngân sách chi trả cho công trình, tối đa 1 tỉ đồng/người. Thành phố cũng nghiên cứu các chính sách hỗ trợ nhà ở, y tế, giáo dục cho con và việc làm cho vợ hoặc chồng chuyên gia.
Theo định hướng của Sở Nội vụ TP.HCM, cách tiếp cận trong thu hút nhân tài được chuyển từ “có chính sách rồi tìm người” sang xác định bài toán trước, tìm người sau. Tinh thần được đặt ra là: “Có bài toán lớn, có sản phẩm cụ thể thì tìm người giỏi nhất để giải quyết”.
Việc thu hút được định hướng theo nguyên tắc “Bốn Gắn”: gắn với nhiệm vụ thực tế, sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu đo lường và kết quả thực hiện; đồng thời thực hiện “Ba không”: không chạy theo số lượng, không dùng chính sách để tuyển nhân sự thông thường và không hạ chuẩn chất lượng.

Theo đó, đơn vị trực tiếp sử dụng nhân tài phải xác định rõ chuyên gia được tuyển để giải quyết vấn đề gì, sản phẩm cần đạt là gì và kết quả được đánh giá ra sao. Đợt tuyển chọn đầu tiên được đặt mục tiêu hoàn thành trong quý III/2026.
Tại Ban Quản lí Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM, giai đoạn 2015-2023, đơn vị đã thu hút 7 chuyên gia, trong đó có GS.TS Akira Suzuki của Nhật Bản. Giai đoạn 2026-2030, Ban Quản lí xác định cần thu hút 9 vị trí chiến lược, tương đương khoảng 10 chuyên gia, tập trung vào chọn tạo giống, công nghệ sau thu hoạch, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.
Theo định hướng mới, cơ quan chủ trì dự án xác định vị trí chuyên gia cần thiết và thành lập hội đồng tư vấn độc lập. Việc đánh giá hướng tới tác động thực tế của sản phẩm, thay vì chỉ căn cứ vào bằng cấp hoặc số lượng công trình khoa học.
GS.TSKH Từ Trung Chấn: Người tài phải có “đất” để làm việc
Từ kinh nghiệm hơn 20 năm làm việc và trở về Việt Nam, GS.TSKH Từ Trung Chấn cho rằng thu hút nhân tài không thể dừng ở việc đưa ra một mức thu nhập hấp dẫn. Vấn đề quan trọng hơn là sau khi người tài đến, họ có điều kiện để làm việc và tạo ra kết quả hay không.

“Chúng ta cứ thu hút nhân tài nhưng nếu không có môi trường làm việc thì người ta cũng không phát huy được”, GS.TSKH Từ Trung Chấn nói.
Theo ông, môi trường làm việc không phải một yếu tố đơn lẻ. Đó là tổng hợp của chính sách, cơ chế, nguồn lực, điều kiện nghiên cứu, đội ngũ cộng sự và quyền chủ động chuyên môn. Một người có năng lực nhưng được đặt trong một môi trường không phù hợp thì năng lực ấy khó chuyển thành sản phẩm.
GS.TSKH Từ Trung Chấn cho biết chính ông từng trải qua giai đoạn trở về Việt Nam khi điều kiện làm việc chưa đáp ứng yêu cầu. Khi đó, dù có chuyên môn và mong muốn đóng góp, khả năng triển khai những công việc lớn vẫn hạn chế.
Từ trải nghiệm này, ông cho rằng cần phân biệt giữa thu hút người tài và sử dụng người tài. Chính sách có thể tạo động lực để một chuyên gia trở về, nhưng môi trường làm việc mới quyết định họ có thể phát huy năng lực đến đâu. “Đất lành chim đậu. Mình phải tạo ra môi trường thì chim mới về”, ông nói.
Theo GS.TSKH Từ Trung Chấn, yêu cầu về môi trường càng rõ trong các lĩnh vực công nghệ cao. Ở ngành bán dẫn, không thể chỉ đặt câu hỏi một đơn vị có làm ra được con chip hay không. Điều quan trọng còn là chất lượng và hiệu suất sản xuất.
Ông dẫn ví dụ, một đơn vị đạt tỷ lệ sản phẩm tốt 92%, trong khi đơn vị khác mới đạt 20%, thì khoảng cách năng lực cạnh tranh là rất lớn. Theo ông, trong công nghệ cao, chỉ cần chạy chậm hơn đối thủ cũng có thể bị đào thải.
Ông ví quá trình phát triển công nghệ như chạy trên một tuyến cao tốc: “Không chạy thì đương nhiên bị đào thải, nhưng chạy chậm cũng bị đào thải”.
Theo GS.TSKH Từ Trung Chấn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội quan trọng để rút ngắn khoảng cách công nghệ. Nếu bỏ lỡ cơ hội hiện nay, khi công nghệ tiếp tục chuyển sang những lĩnh vực mới như lượng tử, khoảng cách tiếp cận sẽ còn lớn hơn.
Ông cho rằng những điều kiện về chính sách đang từng bước được hình thành. Vấn đề còn lại là quyết tâm và tổ chức thực hiện để các chính sách ấy chuyển thành kết quả cụ thể.
GS.VS Nguyễn Văn Tuấn: Người tài cần văn hóa khoa học và nguồn lực để tạo ra tri thức
Theo GS. VS Nguyễn Văn Tuấn, muốn thu hút và phát huy nhân tài khoa học tại Việt Nam cần nhìn vào nhiều yếu tố. Trong đó, ông nhấn mạnh ba vấn đề: văn hóa khoa học, nguồn lực tài chính và con người.

Rào cản đầu tiên, theo ông, là văn hóa khoa học. GS. VS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng trong một số môi trường làm việc, cách ứng xử vẫn mang tính cảm tính. Điều này có thể trở thành trở ngại khi những bất đồng về chuyên môn bị chuyển thành mâu thuẫn cá nhân.
Từ thời gian làm giám đốc một viện nghiên cứu, ông cho biết từng rất khó khăn khi xử lí những xung đột giữa các nhà nghiên cứu. Với ông, vấn đề không nằm ở việc các nhà khoa học bất đồng. Tranh luận, phản biện, thậm chí phản bác nhau là một phần bình thường của khoa học. Điều đáng quan tâm là những bất đồng ấy có được giữ trong phạm vi chuyên môn hay bị cá nhân hóa.
Theo GS. VS Nguyễn Văn Tuấn, văn hóa khoa học ở phương Tây có một điểm khác biệt đáng chú ý: các nhà khoa học có thể bất đồng rất mạnh về chuyên môn nhưng vẫn cùng hướng đến một mục tiêu chung. “Có thể bất đồng ý kiến với nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là cùng làm cho công việc tốt hơn”, ông nói.
Theo ông, một môi trường khoa học đúng nghĩa phải cho phép nhà nghiên cứu đặt câu hỏi, phản biện, bảo vệ quan điểm và thừa nhận sai sót. Khi tranh luận khoa học được tách khỏi quan hệ cá nhân, người giỏi mới có không gian để phát huy năng lực. Ngược lại, nếu mỗi khác biệt chuyên môn đều có nguy cơ trở thành xung đột cá nhân, việc tập hợp những người giỏi cùng làm một nhiệm vụ lớn sẽ rất khó.
Rào cản thứ hai là nguồn lực tài chính. GS.VS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng khoa học, nhất là những nghiên cứu lớn trong y sinh, cần nguồn vốn đủ lớn và đủ dài hạn. Không thể thực hiện một chương trình nghiên cứu quy mô quốc tế bằng nguồn kinh phí quá nhỏ.
Ông dẫn ví dụ, một chương trình giải mã gen cho khoảng 4.000 người có thể cần tới 2 triệu USD, tương đương khoảng 40-50 tỉ đồng. Trong khi đó, nếu một chương trình chỉ được cấp vài tỉ đồng thì quy mô nghiên cứu ngay từ đầu đã bị giới hạn.
Theo GS. VS Nguyễn Văn Tuấn, nghiên cứu khoa học có đặc thù là không phải khoản đầu tư nào cũng tạo ra lợi nhuận ngay. Có những nghiên cứu phải chấp nhận rủi ro, thậm chí thất bại, và cần nhiều năm mới có thể tạo ra giá trị. Vì vậy, nếu chỉ nhìn nghiên cứu khoa học bằng hiệu quả thương mại ngắn hạn thì khó hình thành những chương trình có tầm vóc.
Ông cho rằng nguồn lực tư nhân có thể bổ sung cho khoảng trống này. Những doanh nghiệp có khả năng đầu tư lớn cho nghiên cứu, kể cả khi chưa nhìn thấy lợi nhuận trước mắt, có thể tạo điều kiện cho các chương trình khoa học dài hạn. Theo ông, đây là dạng đầu tư cần thiết với những lĩnh vực mà giá trị chỉ xuất hiện sau một quá trình nghiên cứu kéo dài.
Rào cản thứ ba là con người. Việt Nam có đội ngũ bác sĩ, kĩ sư và chuyên gia chuyên môn tốt, nhưng theo GS. VS Nguyễn Văn Tuấn, còn thiếu những người có khả năng dẫn dắt các chương trình nghiên cứu lớn, tạo ra hướng nghiên cứu mới và tập hợp được một đội ngũ đủ mạnh.
Ông phân biệt giữa người có chuyên môn và người có năng lực tạo ra tri thức. Một bác sĩ có thể rất giỏi trong điều trị lâm sàng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với năng lực dẫn dắt một chương trình nghiên cứu. Tương tự, học hàm, học vị cũng không phải là thước đo duy nhất của năng lực khoa học.
Theo ông, một nhà khoa học phải được nhìn từ những tri thức mới họ tạo ra và mức độ được cộng đồng khoa học ghi nhận.“Nếu bước vào một hội nghị quốc tế mà người ta biết mình là ai, biết mình làm gì, đó mới là vị trí của một nhà khoa học”, GS. VS Nguyễn Văn Tuấn nói.
Theo GS.VS Nguyễn Văn Tuấn, thiếu lực lượng nghiên cứu đủ mạnh sẽ dẫn tới hạn chế khả năng phát kiến. Một hệ thống có thể có nhiều người làm chuyên môn, nhưng nếu thiếu những người dẫn dắt tri thức thì khó hình thành các chương trình nghiên cứu lớn và càng khó tạo ra những đột phá.
GS.TSKH Từ Trung Chấn là nhà khoa học Việt kiều Mỹ trong lĩnh vực vật lí lượng tử, bán dẫn và năng lượng sạch. Ông nhận bằng tiến sĩ tại Mỹ năm 1991 dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học Harold Manasevit, từng giảng dạy tại Đại học Pasadena và làm chủ doanh nghiệp linh kiện công nghệ.
Khi trở về Việt Nam, ông giảng dạy tại Đại học Bách khoa TP.HCM, giữ chức Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện AIAT và tham gia nghiên cứu nhiều lĩnh vực công nghệ cao, trong đó có công nghệ Nano Plasma cao tần.
GS.VS Nguyễn Văn Tuấn là nhà khoa học y khoa, chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Ông là giáo sư y khoa tại Đại học New South Wales, giáo sư và giám đốc Trung tâm Công nghệ y tế thuộc Đại học Kỹ thuật Sydney, đồng thời kiêm nhiệm ngành dịch tễ học tại Đại học Notre Dame Australia.
Năm 2022, ông được trao Huân chương danh dự Úc (Member of the Order of Australia) vì những đóng góp cho nghiên cứu y khoa.



