Hà Nội hướng tới nền nông nghiệp thông minh đa giá trị (Bài 5)
Tư duy sản xuất mới của người nông dân, dữ liệu số hóa trong hợp tác xã, công nghệ tự động hóa trong chăn nuôi giống - những mảnh ghép được phản ánh ở các bài trước trong tuyến bài Nông nghiệp thông minh ở Hà Nội, đều cần một điều kiện nền để có thể nhân rộng thành một nền nông nghiệp thông minh đúng nghĩa.
Trao đổi với báo chí, ông Tạ Văn Tường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đã làm rõ hơn bức tranh chính sách phía sau xu hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp số của Thủ đô.
Nông nghiệp thông minh: Tăng giá trị trên từng tấc đất
- Thưa ông, khái niệm "nông nghiệp thông minh" dưới góc nhìn của cơ quan quản lí, được hiểu như thế nào? Vì sao đến thời điểm này, xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong nông nghiệp Hà Nội mới thực sự bùng lên rõ nét, thay vì chỉ là những mô hình thí điểm như trước đây?
- Ông Tạ Văn Tường: Trong những năm trước, sản xuất nông nghiệp theo hướng sinh thái, chuỗi giá trị chỉ là các mô hình đơn lẻ. Nhưng đến nay, các mô hình này đã trở thành một xu hướng mạnh mẽ. Toàn thành phố hiện có hơn 400 mô hình kinh tế nông nghiệp xanh, tuần hoàn, hữu cơ, gắn với du lịch sinh thái.

Có bốn nhân tố cùng thúc đẩy sự chuyển biến trong nhận thức và tư duy sản xuất của người nông dân. Thứ nhất là chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của thành phố, điển hình là Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị và Luật Thủ đô năm 2024, đã đưa ra nhiều định hướng phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới.
Thứ hai là yêu cầu của thị trường hiện nay, buộc người nông dân phải thay đổi. Thứ ba, việc chuyển đổi mô hình rõ ràng mang lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn, đây chính là động lực trực tiếp nhất. Và thứ tư, đi theo mô hình chuyển đổi xanh cũng là cách để bảo vệ sức khỏe cho chính người sản xuất.
- Diện tích đất nông nghiệp Hà Nội đang thu hẹp dần trước tốc độ đô thị hóa. Công nghệ cao có thể giải bài toán này như thế nào?
- Ông Tạ Văn Tường: Nông nghiệp Thủ đô chịu sức ép rất lớn do diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cao đã đem lại giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Đồng thời, thành phố cũng định hướng quy hoạch các vùng sản xuất tập trung để tổ chức sản xuất theo chuỗi, qua đó thu hút được các doanh nghiệp có tiềm lực, nguồn lực đầu tư. Khi có vùng sản xuất tập trung, doanh nghiệp có thể phát triển đồng thời cả nông nghiệp, dịch vụ, giáo dục trải nghiệm, liên kết tạo ra giá trị rất lớn.
Muốn vừa giữ được không gian xanh, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế thì cần có quy hoạch định hướng không gian xanh rõ ràng. Xu hướng tất yếu là nông nghiệp không chỉ mang chức năng sản xuất mà còn tạo cảnh quan môi trường sinh thái, hình thành các công viên nông nghiệp trải nghiệm, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu và điều hòa sinh thái cho đô thị.
Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm đã xác định mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại theo hướng này, thành phố đã cập nhật quy hoạch một số vùng sản xuất tập trung và sẽ tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.

- Về nguồn lực hỗ trợ, hiện thành phố đã có những cơ chế, chính sách cụ thể nào cho các mô hình chuyển đổi xanh, thông minh?
- Ông Tạ Văn Tường: Đến thời điểm hiện tại, Hà Nội đã có khá đồng bộ các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các mô hình chuyển đổi theo hướng xanh.
Về vốn, khoa học công nghệ và đào tạo, thành phố có Quỹ Khuyến nông, Quỹ Hỗ trợ nông dân, cùng các chương trình cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua các tổ chức nhận ủy thác như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, đang được triển khai khá hiệu quả. Với các doanh nghiệp, nhà đầu tư quy mô lớn hơn, thành phố có quỹ hỗ trợ đầu tư trong các lĩnh vực ưu tiên, với lãi suất ưu đãi và nguồn vốn lớn.
Đáng chú ý, thành phố đã ban hành Nghị quyết số 53 với nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực như hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư, hỗ trợ vật tư sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, giống cây trồng, vật nuôi, thiết bị phục vụ sản xuất và chuyển đổi số trong nông nghiệp.
Bên cạnh đó, các sở, ngành cũng phối hợp triển khai nhiều chương trình xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường trong và ngoài nước. Việc đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin sản phẩm cũng đang góp phần tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu nông sản, Hà Nội là địa phương triển khai các giải pháp này từ khá sớm.
“Đo ni đóng giày” để tạo những doanh nghiệp dẫn dắt
- Khi nông nghiệp xanh trở thành xu hướng, cũng có lo ngại về tình trạng làm theo phong trào, "xanh hình thức". Thành phố kiểm soát vấn đề này như thế nào?
- Ông Tạ Văn Tường: Đây là lĩnh vực còn khá mới, nhưng Việt Nam đã có định hướng rõ ràng ngay từ sau cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) tại COP26. Thời gian qua, nhiều bộ tiêu chuẩn đã được xây dựng, như tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ hay các bộ tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt. Tuy nhiên, với chuyển đổi xanh, thành phố cần tiếp tục xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và các chỉ số đánh giá cụ thể. Chỉ những sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này mới được công nhận và dán nhãn xanh, đây là cơ sở để tạo niềm tin cho người tiêu dùng và khuyến khích tiêu thụ.

Theo hướng cải cách quản lí, cần đẩy mạnh cơ chế chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cho phép doanh nghiệp tự công bố sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn trước khi lưu thông. Khâu hậu kiểm sẽ giữ vai trò đặc biệt quan trọng: Cơ quan quản lí kiểm tra, đánh giá lại sản phẩm đang lưu thông và công khai kết quả để người tiêu dùng giám sát. Đây sẽ là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn tình trạng "xanh hình thức".
- Để thu hút thêm doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, Hà Nội sẽ có những đột phá gì về chính sách trong thời gian tới?
- Ông Tạ Văn Tường: Hà Nội xác định doanh nghiệp là lực lượng dẫn dắt trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sinh thái. Thành phố đang chủ động xúc tiến, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược, xây dựng những dự án có tính định hướng, tạo sức lan tỏa cho toàn ngành, đồng thời tăng cường đối thoại, lắng nghe nhu cầu thực tế của doanh nghiệp để xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp. Với những cơ chế đặc thù từ Luật Thủ đô, thành phố có điều kiện ban hành chính sách linh hoạt hơn để tháo gỡ điểm nghẽn trong đầu tư.
Thay vì hỗ trợ dàn trải, chính sách sẽ được thiết kế theo hướng "đo ni đóng giày", tập trung giải quyết đúng khó khăn của từng dự án, từng doanh nghiệp. Ngân sách Nhà nước sẽ đóng vai trò là "cú hích", hỗ trợ tháo gỡ điểm nghẽn để thu hút nguồn lực xã hội, hình thành các doanh nghiệp đầu tàu đủ sức dẫn dắt hợp tác xã, nông dân và các doanh nghiệp nhỏ cùng tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp xanh. Khi hệ sinh thái đầu tư đã phát triển ổn định, nguồn lực hỗ trợ sẽ tiếp tục điều chỉnh sang những lĩnh vực, địa bàn còn nhiều dư địa phát triển, để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và tạo động lực tăng trưởng bền vững.

- Trở lại với khái niệm nông nghiệp thông minh, Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030 tỉ lệ sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt trên 70% tổng sản phẩm nông nghiệp. Ông hình dung diện mạo nông nghiệp Thủ đô khi đạt được mục tiêu đó sẽ như thế nào?
- Ông Tạ Văn Tường: Đích đến của nông nghiệp Thủ đô mà chúng tôi hoạch định gồm bốn từ khóa: Hiện đại, sinh thái, phát thải thấp và dẫn dắt. Trong đó, tôi rất mong muốn cái dẫn dắt, bởi Việt Nam là đất nước có đặc sản theo từng địa phương rất nhiều, và các doanh nghiệp của Hà Nội hiện đang khai thác đặc sản vùng miền của cả nước.
Khi các vùng sản xuất tập trung của thành phố được hình thành, gắn với dữ liệu, công nghệ và chuỗi liên kết, đó sẽ là hoạt động dẫn dắt đối với nông nghiệp cả nước. Hướng tới năm 2045, chúng tôi mong Hà Nội trở thành địa phương đi đầu trong nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp đô thị tuần hoàn.
- Xin cảm ơn ông!



