Thời sự

TS. Trần Du Lịch: Sân bay Long Thành là đầu mối logistics hàng không

Hoàng Bắc 06/09/2026 18:37

Đông Nam Bộ đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 10 - 11%/năm đến năm 2030. Theo TS Trần Du Lịch - nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế TP.HCM, để đạt mục tiêu này, cần tăng liên kết giữa doanh nghiệp, hạ tầng và logistics, qua đó hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh cao hơn.

Logistics cần được kết nối thành một mạng lưới

Theo Quyết định 615/QĐ-TTg về điều chỉnh quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, vùng đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 10 - 11%/năm. Đến năm 2030, thu nhập bình quân đầu người dự kiến đạt khoảng 14.500 USD. Hệ thống hạ tầng khung kết nối liên vùng cũng được định hướng hoàn thiện cơ bản.

1788528433416_1847374674625904574_717098874694500334_e9f44c0e7e8d6e07b64e9e18a3277ff5.jpg
TS. Trần Du Lịch cho rằng, Đông Nam Bộ cần tăng liên kết giữa doanh nghiệp, hạ tầng và logistics, qua đó hình thành các chuỗi giá trị có sức cạnh tranh cao hơn. Ảnh: Diễn đàn tư nhân Việt Nam

Đông Nam Bộ gồm TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh có lực lượng doanh nghiệp tư nhân lớn, hoạt động trong công nghiệp, thương mại, dịch vụ, logistics và đổi mới sáng tạo.

Theo TS. Trần Du Lịch, doanh nghiệp tư nhân có lợi thế về tính linh hoạt và khả năng thích ứng. Tuy nhiên, phần lớn vẫn có quy mô nhỏ và vừa. Năng lực công nghệ, quản trị và tài chính còn hạn chế. Liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước chưa chặt. Kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực FDI, viện nghiên cứu và trung tâm khoa học công nghệ cũng chưa tương xứng. “Bài toán trọng tâm hiện nay không phải là gia tăng số lượng doanh nghiệp đơn thuần, mà là tổ chức lại sự liên kết”, TS. Trần Du Lịch nhận định.

Theo ông, doanh nghiệp cần chuyển từ cạnh tranh riêng lẻ sang hợp tác theo chuỗi giá trị. Chuỗi này gồm nghiên cứu, thiết kế, nguyên liệu, linh kiện, sản xuất, chế biến, logistics và xây dựng thương hiệu. Doanh nghiệp Việt cũng cần tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế, từng bước trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2.

Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp lớn có thể giữ vai trò đầu chuỗi. Doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào những công đoạn phù hợp. Các viện nghiên cứu, trường đại học và trung tâm đổi mới sáng tạo hỗ trợ về công nghệ.

Theo TS. Trần Du Lịch, chuỗi giá trị chỉ vận hành hiệu quả khi hệ thống logistics được kết nối đồng bộ. Hiện chi phí logistics của doanh nghiệp còn chịu tác động từ sự thiếu đồng bộ giữa đường bộ, đường sắt, đường thủy, cảng biển, sân bay, kho bãi và trung tâm phân phối. Vì vậy, thay vì phát triển từng công trình riêng lẻ, cần hướng đến mạng lưới logistics tích hợp toàn vùng.

cang-cai-mep-thi-vai.jpg
Cụm cảng Cái Mép - Thị Vải với vai trò là cửa ngõ xuất nhập khẩu hàng đầu Đông Nam Bộ. Ảnh: als.com.vn

Trong đó, cụm cảng Cái Mép - Thị Vải giữ vai trò cửa ngõ xuất nhập khẩu quốc tế. Sân bay quốc tế Long Thành là đầu mối logistics hàng không. Các tuyến vành đai, cao tốc và đường sắt cần kết nối với khu công nghiệp, cảng biển và sân bay.

Hệ thống trung tâm logistics, ICD, kho lạnh, kho ngoại quan và trung tâm phân phối cũng cần được phát triển đồng bộ.

Đến năm 2030, các điểm nghẽn hạ tầng giao thông cốt lõi tại Đông Nam Bộ được kì vọng cơ bản được xử lí. Đây là điều kiện để cải thiện lưu thông hàng hóa và giảm chi phí cho doanh nghiệp.

Bên cạnh hạ tầng vật chất, TS Trần Du Lịch lưu ý vai trò của hạ tầng số. Việc chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp sản xuất, vận tải, cảng biển và cơ quan quản lí giúp theo dõi hàng hóa từ nhà máy đến thị trường. Dữ liệu về kho bãi, phương tiện và năng lực cung ứng cũng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất và phân phối.

Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở dữ liệu chung về năng lực sản xuất, tiêu chuẩn kĩ thuật và chứng nhận chất lượng có thể mở thêm cơ hội tham gia các chuỗi cung ứng lớn.

Xây dựng cơ chế điều phối vùng Đông Nam Bộ

TS.Trần Du Lịch đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Đầu tiên, tổ chức các cụm liên kết ngành với doanh nghiệp đầu chuỗi dẫn dắt. Với cơ khí - chế tạo, doanh nghiệp lớn kết nối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cung ứng linh kiện, khuôn mẫu và gia công chính xác.

TS Trần Du Lịch cho rằng, TP.HCM cần chuyển từ tư duy quy hoạch đất sang quy hoạch hệ sinh thái kinh tế. Ảnh: Việt Dũng
TS Trần Du Lịch cho rằng cần xây dựng cơ chế điều phối vùng và Chương trình phát triển chuỗi giá trị Đông Nam Bộ. Ảnh: Việt Dũng

Với điện tử - bán dẫn, hình thành mạng lưới cung ứng vật liệu, thiết bị và dịch vụ kiểm định. Ngành nông sản - thực phẩm cần liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến và logistics lạnh. Dệt may, da giày và chế biến gỗ cần tăng đầu tư cho thiết kế, thương hiệu và những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Cùng với đó là phát triển hạ tầng logistics đồng bộ gắn với chuyển đổi số. Mạng lưới cần kết nối nhà máy, trung tâm logistics, ICD, cảng Cái Mép - Thị Vải và sân bay Long Thành.

Một vấn đề quan trọng khác là xây dựng cơ chế điều phối vùng và Chương trình phát triển chuỗi giá trị Đông Nam Bộ. Đặc biệt là khi hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng vượt qua địa giới hành chính giữa TP.HCM, Đồng Nai và Tây Ninh.

Trước mắt, vùng có thể xác định 5 - 7 chuỗi giá trị ưu tiên. Mỗi chuỗi cần có “bản đồ” về doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng, công đoạn còn thiếu, nhu cầu nhân lực và logistics.

Cùng với đó là cơ sở dữ liệu tích hợp về doanh nghiệp cung ứng. Thông tin về năng lực sản xuất, tiêu chuẩn kĩ thuật và chứng nhận chất lượng sẽ giúp các tập đoàn FDI thuận lợi hơn khi tìm kiếm nhà cung ứng trong nước.

Một quỹ hoặc chương trình hỗ trợ doanh nghiệp cũng có thể tập trung vào chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, chứng nhận chuẩn quốc tế và quản trị doanh nghiệp, thay vì hỗ trợ dàn trải.

Bối cảnh hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi khi thể chế đang được Đảng và Nhà nước tập trung cải cách đồng bộ thông qua 10 nghị quyết của Trung ương.

Nghi thức đón chuyến bay đầu tiên tại sân bay Long Thành, ngày 19/12/2025. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng.
Sân bay Long Thành sẽ là đầu mối logistics hàng không. Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Theo TS. Trần Du Lịch, nếu Đông Nam Bộ đạt tăng trưởng 10 - 11%/năm, sức lan tỏa đến cả nước sẽ rất lớn. Ngược lại, nếu vùng không bứt phá, khó có khu vực nào khác thay thế vai trò đầu tàu.

Lịch sử kinh tế thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho thấy hơn 100 quốc gia giành được độc lập, nhưng số nước trở thành nước phát triển chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tại ASEAN, ngoài Singapore, nhiều nền kinh tế vẫn đang tìm cách vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

“Chúng ta có niềm tin rằng trong dài hạn, Việt Nam sẽ thành công, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và trở thành nước phát triển. Sự trông chờ nằm ở tất cả các bạn”, TS. Trần Du Lịch nói.

Hoàng Bắc