Cà phê Một thế giới

GS. Nguyễn Văn Tuấn: 'Tôi nghĩ đến Việt Nam khi làm bất cứ việc gì'

Thẩm Hồng Thụy (thực hiện) 07/09/2026 09:30

Giáo sư (GS) Nguyễn Văn Tuấn có lối nói chuyện hóm hỉnh. Trong cuộc trò chuyện với Cà phê Một Thế Giới, những thông tin, chi tiết nhạy cảm, dễ gây bức xúc, qua cách diễn đạt của ông trở thành nhẹ tênh, dí dỏm. Vì thế, câu chuyện với ông nhiều tiếng cười. Tình cảm với quê hương Việt Nam trong ông, có thể nhìn thấy cả sự níu giữ phương ngữ Nam bộ. Ông thổ lộ rằng ông sợ mất nó, sợ nó bị mai một, cho nên ông thường dùng phương ngữ Nam bộ trong lời ăn tiếng nói, trong viết lách...

nguyen-van-tuan_01.jpg
nguyen-van-tuan_03.jpg

- Thưa Giáo sư, từ một người nhập cư có xuất phát điểm đầy khó khăn khi mới đặt chân đến Úc, động lực nào đã giúp ông vươn lên trở thành Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Úc, một trong những nhà khoa học hàng đầu thế giới về loãng xương?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Tôi nghĩ, 50% là do sinh tồn và may mắn, 50% nữa là nhờ có ý chí. Những ngày tháng đầu tiên đặt chân đến Úc, năm 1982, nền kinh tế đang khủng hoảng, kiếm được việc làm đã là may mắn lắm rồi. Mình đâu có suy nghĩ sau này làm ông này bà kia. Chỉ nghĩ, làm sao tự mình sống được, sau nữa là có được ít thu nhập để gửi về gia đình ở Việt Nam. Một yếu tố nữa, tôi nghĩ là sự may mắn. Thời gian đầu tôi tìm được việc làm trong nhà bếp Bệnh viện St. Vincent, sau đó tôi còn tìm được chân làm phụ tá ở một phòng thí nghiệm nghiên cứu sinh hóa ở Bệnh viện Royal North Shore vùng Bắc Sydney. Nhìn thấy những gì ông sếp làm tại labo, tôi nghĩ mình có thể làm tốt hơn. Tôi mới nói với ông ấy: “Ông hãy giao việc này cho tôi. Tôi có thể làm tốt hơn”. Ông ấy bảo: “Việc này phức tạp lắm, cậu cứ làm tốt việc của cậu là phụ tá đi”. Tôi tự ái: “Tôi làm việc này 5 phút không xong ông đuổi việc tôi cũng được”. Rồi tôi làm xong. Ông hỏi: “Cậu học ở đâu vậy?”. Tôi trả lời: “Tôi học ở Việt Nam”. Ông ấy liền nói: “Những người sáng dạ như cậu nên quay lại trường đại học đi, nếu cần tôi giúp cho”.

Vậy là tôi quay lại trường đại học. Mà, học hành cũng khó khăn lắm vì tiếng Anh còn yếu. Nhưng cũng như bao nhiêu người Việt khác, tôi cố gắng và kiên trì, học có thể chậm hơn đồng môn nhưng chắc ăn. Ngay cả khi làm việc cũng vậy, có lúc thất bại, và trong những lúc như thế, sự kiên trì theo đuổi một lí tưởng là yếu tố rất quan trọng để đi tới đích.

Học xong, tôi làm việc ở bệnh viện nổi tiếng St. Vincent 30 năm, với Viện nghiên cứu Garvan Institute. Ở Garvan toàn “cao thủ võ lâm”, được làm việc trong một môi trường như vậy là một sự may mắn tuyệt vời. Rồi tôi gặp một người thầy Do Thái, ông ấy có một mạng lưới quan hệ rộng trong cộng đồng của họ với nhau. Ông giới thiệu cho tôi gặp nhiều người nổi tiếng ở bên Mỹ, châu Âu. Khi tôi làm xong tiến sĩ, cũng nhờ thầy giới thiệu, tôi mới có cơ hội làm việc ở những nơi lừng danh như Mayo Clinic, Đại học California San Francisco, Đại học California San Diego…

nguyen-van-tuan_05.jpg
nguyen-van-tuan_07.jpg

- Trong những thành tựu nghiên cứu và thực hành y khoa tới thời điểm này, công trình, dự án hay phát hiện khoa học nào có tính hiệu quả thực tế mà giáo sư tâm đắc nhất?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Mô hình tôi tâm đắc nhất là giúp thay đổi cách đánh giá bệnh loãng xương. Mô hình coi đơn giản, nhưng chúng tôi mất đến 20 năm trời để có đủ dữ liệu. Khoảng 30 năm trước, một trong những nghiên cứu quan trọng của chúng tôi phát hiện ra rằng, đa số những ca bị gãy xương không bị loãng xương, hoặc có mật độ xương chỉ thấp một chút thôi. Câu hỏi đặt ra là làm sao nhận diện những người này một cách tốt hơn. Từ đó, chúng tôi mới sáng chế ra mô hình với tên gọi ban đầu là “Nguyễn Model” (Nguyen’s Model), vì tác giả đầu tiên là BS. Nguyễn Đình Nguyên, và tác giả chịu trách nhiệm là tôi, cũng mang họ Nguyễn. Mô hình này sau đó rất thành công, được sử dụng tại 165 quốc gia, Viện nghiên cứu Garvan mới đề nghị đổi tên thành “Garvan Fracture Risk Calculator” vì họ nghĩ họ là "ngưởi chủ" và chúng tôi chỉ là "cộng sự"; họ là nguồn cung cấp tài lực và cơ sở vật chất cho những nghiên cứu dẫn đến công trình nghiên cứu này.

Mô hình này giúp nhận dạng những người có nguy cơ gãy xương cao để đưa ra phác đồ điều trị, từ đó giúp ngăn ngừa được số ca gãy xương trong cộng đồng. Khi ngăn ngừa được nhiều ca gãy xương cũng đồng thời giúp cứu sống được nhiều người. Bởi theo thống kê, có tới 30% số ca bị gãy cổ xương đùi tử vong trong vòng 12 tháng. Sau đó, nhờ hai em nghiên cứu sinh là Nguyễn Đình Tân và Nguyễn Gia Huy, mô hình Garvan được nâng cấp thành một công cụ AI. Người dùng chỉ cần nói/đọc lệnh là công cụ sẽ trả lời bằng giọng nói. Trên thực tế, mô hình này vừa có tính chất là một công cụ y khoa nhưng cũng vừa mang tính giáo dục. Để làm được điều này chúng tôi phải huấn luyện “con AI” đọc 21 cuốn sách giáo khoa y khoa về xương, đọc tất cả các phác đồ điều trị trên thế giới, rồi mình đặt ra hàng trăm câu hỏi và kiểm tra xem AI trả lời đúng hay không. Đại thể là chúng tôi huấn luyện con AI thành một chuyên gia về loãng xương, và hai em nghiên cứu sinh đã đạt được nhiều giải thưởng với công trình này.

nguyen-van-tuan_09.jpg
nguyen-van-tuan2_01.jpg

- Từ lúc nào khi đang ở Úc, giáo sư đã nghĩ là sẽ trở về Việt Nam với những việc làm đóng góp cho quê hương?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Thú thực là vào thời đó (45 năm trước) những người ra đi như trong hoàn cảnh của tôi ít ai nghĩ rằng mình có thể trở về Việt Nam. Rất nhiều sáng tác văn nghệ thời đó phản ảnh tâm trạng "một lần đi là một lần vĩnh biệt".

Hồi đó, tôi hay được mời giảng trong các hội nghị và đại học vòng quanh Đông Nam Á. Một lần tôi đi giảng ở Thái Lan, tình cờ gặp đại diện công ty dược chuyên về thuốc điều trị loãng xương. Cô ấy ngỏ lời mời tôi về Việt Nam nói về bài giảng hôm đó cho các bác sĩ trong nước nghe. Đó là năm 1999, lần đầu tiên tôi về nước nói chuyện trước hàng trăm bác sĩ Việt Nam tại khách sạn Windsor ở TP.HCM. Số người tham dự đông, nhiều người không có ghế ngồi. Sự trao đổi, tương tác sau đó đã khiến tôi rất cảm động, tôi nghĩ rằng mình vẫn có một diễn đàn ở đây, có những đồng nghiệp ở đây ủng hộ mình.

Sau đó tôi tình cờ gặp PGS. TS Nguyễn Thy Khuê chuyên về nội tiết trong một nhà sách. Chị đề nghị tôi mỗi năm về Việt Nam hai lần để giảng dạy. Thế là bắt đầu từ năm 2000 tôi và BS. Nguyễn Đình Nguyên (lúc đó là nghiên cứu sinh ở Garvan) về khá thường xuyên.

nguyen-van-tuan2_03.jpg
nguyen-van-tuan2_05.jpg

Nhưng tôi lại nghĩ, việc giảng dạy cũng mới chỉ thể hiện bằng lời nói. Tôi muốn thể hiện bằng hành động. Tôi mới bàn với BS. Hồ Phạm Thục Lan, một trong những học viên của các khoá học đầu tiên, triển khai một nghiên cứu lớn. Vì không thể về Việt Nam thường xuyên, tôi đề nghị BS. Thục Lan quản lí dự án. Thế là chúng tôi cùng bắt tay thực hiện dự án Vietnam Osteoporosis Study (VOS - Nghiên cứu loãng xương Việt Nam). Dự án ban đầu được tài trợ từ Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi và BS. Thục Lan sau đó xin kinh phí nghiên cứu khoa học từ Sở KH&CN TP.HCM.

Chúng tôi triển khai và thực hiện dự án trong vòng 10 năm và đã đóng góp cho Việt Nam hơn 70 bài báo khoa học công bố quốc tế. Nhiều người hỏi tôi có nhận lương từ những việc làm "bao đồng" như thế? Không! Tôi không nhận cắc bạc nào, BS. Thục Lan cũng vậy, khoảng 30 em bác sĩ, sinh viên tham gia dự án cũng thế, thậm chí chúng tôi còn phải tiêu khá nhiều tiền túi.

nguyen-van-tuan2_07.jpg

- Mô hình Garvan được triển khai và áp dụng như thế nào vào thực tế tại Việt Nam như một phần trong dự án VOS, thưa giáo sư?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Mô hình này đã được áp dụng ở Việt Nam với một công cụ được gọi là “BONEcheck”, với các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Malay, tiếng Thái, tiếng Việt… Chúng tôi đã phải mất vài năm để xây dựng và triển khai. Cũng may mắn là 10 năm trước khi khởi động dự án VOS, chúng tôi đã thu thập dữ liệu cộng đồng từ 4.200 người tham gia, nhờ đó mới xây dựng được cơ sở dữ liệu này cho Việt Nam. Trong dự án này, tôi là đồng sáng lập, các bên phối hợp, hỗ trợ và vận hành trực tiếp dự án gồm có Saigonmec (Saigon Precision Medicine Research Center - Trung tâm Nghiên cứu Y học chính xác Sài Gòn), Đại học Công nghệ Sydney - UTS), và Hội Loãng xương TP.HCM. Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu đánh giá mô hình Garvan ở bệnh nhân người Việt và kết quả cho thấy nó tiên lượng chính xác hơn các mô hình phức tạp khác.

- Dự án VOS cho đến thời điểm này có thể nói là “trái ngọt” điển hình có dấu ấn sâu đậm nhất liên quan tới quá trình giáo sư về Việt Nam làm việc và đóng góp cho quê hương?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Có thể nói, VOS là dự án lớn nhất trong chuyên ngành loãng xương ở Việt Nam, được tiến hành ròng rã trong 10 năm trời và đưa tên tuổi Việt Nam ra trường quốc tế. Dự án VOS trước hết giúp trả lời câu hỏi đơn giản như có bao nhiêu người bị loãng xương, tiểu đường, béo phì… Thứ hai là xây dựng những giá trị tham chiếu của người Việt cho chẩn đoán loãng xương vì trước đó Việt Nam chưa hề có dữ liệu này. Thứ ba là khám phá những gen quan trọng. Mãi tới năm 2025, chúng tôi mới phân tích xong phần gen, bây giờ tính tiếp việc viết bài báo khoa học. Công cụ BONEcheck chỉ là một phần trong dự án. Như đề cập trên, chúng tôi nghiên cứu trên một cộng đồng 4.200 người, và sẽ tới lúc công bố bản đồ gen của cộng đồng rộng lớn này. Qua việc theo dõi sức khỏe cộng đồng như vậy chúng tôi đã phát hiện ra 3 ca mắc ung thư mà bản thân họ không hề hay biết, từ đó giúp cứu sống họ nhờ phát hiện sớm. Sau này, dự án VOS còn mở rộng sang lĩnh vực ung thư qua hợp tác với các đồng nghiệp ở Đại học Johns Hopkins bên Mỹ.

nguyen-van-tuan2_09.jpg

Từ chỗ thấy tôi không chỉ giảng dạy mà còn thực thi dự án, nhiều nơi bắt đầu mời tôi hướng dẫn nghiên cứu sinh tại Việt Nam. Chứ ban đầu, họ không cho tôi hướng dẫn vì cho rằng vướng quy định gì đó (cười). Tôi còn nhớ một em đồng nghiệp ở một trường đại học y ở phía Nam làm thủ tục đề nghị cho tôi chức danh "giáo sư thỉnh giảng". Nhưng lên hội đồng, đề xuất không được chấp thuận vì cho rằng “ông này không có chứng chỉ tiếng Anh” (cười). Người đầu tiên thay đổi điều này là GS. Nguyễn Thanh Bình ở Đại học Dược Hà Nội. GS. Bình nói “để em làm”, và thế là tôi trở thành giáo sư thỉnh giảng để hướng dẫn nghiên cứu sinh ở đó. Sau đó, Đại học Y Hà Nội cũng phê chuẩn tôi là giáo sư thỉnh giảng để hướng dẫn nghiên cứu sinh, rồi đến Trường Đại học Y - Dược Huế… Từ đó, tôi mới có thêm nhiều cơ hội hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh ở trong nước.

nguyen-van-tuan2_11.jpg

- Giáo sư sống và làm việc chủ yếu ở Úc nhưng lại là một trong những nhà khoa học đi đầu trong việc công bố các bằng chứng khoa học về tác hại của chất độc da cam trên trường quốc tế. Động lực nào đã thôi thúc ông dấn thân vào một đề tài vừa mang tính khoa học, vừa mang nặng nỗi đau lịch sử tại Việt Nam như vậy?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Ngày xưa, tôi lớn lên dưới quê từng chứng kiến máy bay Mỹ rải loại thuốc diệt cỏ màu trắng chứa trong thùng màu da cam có sức tiêu hủy cỏ và cây cối rất nhanh. Sau này tôi mới biết đó là chất da cam có chứa dioxin. Và tôi cũng được biết rằng, ở Mỹ người ta làm nghiên cứu rất nhiều về chất này. Tôi mới tìm hiểu và được biết thêm, mục đích của họ là thu thập bằng chứng khoa học để kiện các công ty hóa chất Mỹ đòi tiền bồi thường.

Tôi cũng rất trăn trở, tại sao những người đi rải chất da cam thì được đền bù còn nạn nhân của chất da cam thì không được đền bù. Tôi tìm hiểu và nhận thấy một trong những nguyên nhân là Việt Nam không có công trình nghiên cứu khoa học bài bản về vấn đề này, cho nên không trưng ra được đủ bằng chứng về mặt dữ liệu khoa học đủ để thuyết phục các tòa án, dẫn đến thua kiện và chịu thiệt thòi. Chất dioxin có thời gian bám hủy sau khoảng 7 năm chỉ còn 50%, và cứ sau mỗi 7 năm thì tỉ lệ bám hủy thấp đi rất nhiều, đến một lúc nào đó về zero. Trong khi đó, việc rải chất da cam tại Việt Nam tính đến bây giờ đã sau 50, 60 năm rồi…

Vấn đề tôi quan tâm nhất hồi đó là dị tật bẩm sinh. Câu hỏi đặt ra là có mối liên quan nào giữa những người bị phơi nhiễm chất da cam với dị tật bẩm sinh hay không? Nhưng ở Việt Nam, lại không có nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này. Thế là nghiên cứu sinh Ngô Đức Anh và tôi đã phải đi thu thập dữ liệu trên khắp thế giới như Mỹ, Ý, Pháp, Anh…, không phải từ quân đội mà từ các nơi có sử dụng dioxin như các hãng sản xuất giấy. Từ thông tin, dữ liệu thu thập được, chúng tôi phân tích và chỉ ra mối liên hệ giữa việc phơi nhiễm chất dioxin và dị tật bẩm sinh, rồi viết thành bài báo khoa học. Ban đầu, tôi gửi bài cho tập san y khoa lừng danh JAMA của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ. Họ không đăng vì cho rằng đây là "bài báo chống Mỹ" (cười). Tôi viết thư phản đối, họ vẫn không đăng. Sau đó tôi chuyển sang gửi bài viết cho tập sang về dịch tễ học International Journal of Epidemiology của Anh, thì được đăng, và bài báo đó trở thành nổi tiếng tới bây giờ.

Sau đó, tôi tổng hợp vài chục bài viết trên các báo như Tuổi Trẻ và Người lao động thành một cuốn sách nhan đề là "Chất độc da cam, dioxin và hệ quả" do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vào năm 2004. Sau này, cuốn sách được dịch sang tiếng Pháp và Anh. Tôi còn được mời viết vài chương sách về tác động dioxin trong thời chiến bằng tiếng Anh dựa trên dữ liệu của cuốn sách này.

nguyen-van-tuan2_13.jpg

- Ngoài việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, giáo sư còn là một trong số ít nhà khoa học Việt kiều đã xuất bản hàng chục đầu sách bằng tiếng Việt tại Việt Nam với các chủ đề từ y học, giáo dục đến tạp văn. Những thông điệp cốt lõi nào ông mong truyền tải đến người đọc, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người ông muốn “gieo mầm”?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Tính tới nay tôi đã viết và xuất bản 21 đầu sách tại Việt Nam. Việc tôi viết nhiều sách và xuất bản tại Việt Nam cũng bắt đầu từ các khóa giảng dạy. Mỗi khóa giảng chỉ thu hút được từ 100 - 200 người. Nếu tổ chức được 100 khóa giảng cũng chỉ thu hút được số lượng vài chục ngàn người tham dự. Tôi nghĩ sách sẽ giúp các bài giảng đó đến được nhiều người hơn, cho nên tôi đã biến các bài giảng đó thành những cuốn sách, với các đầu sách về phương pháp nghiên cứu khoa học, cách viết bài báo khoa học từ A-Z để khuyến khích mọi người công bố quốc tế, sách về khoa học thường thức, sách về loãng xương… Điều làm tôi thấy vui là những cuốn sách đó đã giúp cho nhiều sinh viên và nghiên cứu sinh, không chỉ trong nước mà cả các em du học sinh ở nước ngoài nữa.

nguyen-van-tuan3_02.jpg
nguyen-van-tuan3_04.jpg

- Là một chuyên gia về y học thực chứng và thống kê y khoa, giáo sư nhìn nhận như thế nào về vai trò xu hướng ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) và Dữ liệu lớn (Big Data) vào y học hiện đại, cơ hội cũng như những tác động tiêu cực có thể xảy ra?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Việt Nam có rất nhiều cơ hội để xây dựng những công cụ AI trong y khoa. Đơn cử bệnh nhân tiểu đường thường bỏ quên điều trị, kiểm soát đường huyết không tốt, béo phì… Những vấn đề thực tế đó là những cơ hội tuyệt vời để ứng dụng AI. Nhưng cần phải phân biệt 2 loại ứng dụng. Một loại là người ta đã làm ra sẵn và mình mang về sử dụng; hoặc mình mang về chỉ cần chỉnh sửa, cải tiến một chút. Tôi thực sự không mặn mà với loại ứng dụng này. Loại thứ hai là mình tự xây dựng từ zero, tự viết code, cho tới xây dựng thành sản phẩm hoàn thiện, như công cụ BONEcheck chẳng hạn. Đó mới được xem là làm chủ công nghệ lõi. Những ứng dụng AI như thế rất tốt, giúp nâng cao năng suất cho bác sĩ. Đơn cử, một con AI có thể đọc phim X-quang, có thể chẩn đoán loãng xương chỉ trong vòng 5 giây, nhưng nếu bác sĩ đọc thì phải mất ít nhất 5 phút, và nếu đọc đến phim X-quang thứ 10 thì đầu óc “tẩu hỏa nhập ma” rồi (cười).

nguyen-van-tuan3_06.jpg

Tuy nhiên, nếu người bác sĩ quá lệ thuộc vào AI thì tác động tiêu cực có thể xảy ra, dẫn đến thoái hóa kĩ năng (de-skilling). Ví dụ, tôi ra lệnh cho con AI đọc tấm phim X-quang của một bệnh nhân, với chỉ số cụ thể về mật độ xương, tiền sử từng té ngã gãy xương, và yêu cầu cho tôi biết cần phải làm gì? Ngay lập tức, con AI có thể đưa ra chẩn đoán bệnh nhân bị loãng xương, cần điều trị bằng thuốc, chẳng hạn như bisphosphonate. Nhưng vai trò của người bác sĩ cần phải hơn thế. Người bác sĩ cần phải khai thác thêm thông tin từ bệnh nhân. Một khi có thêm thông tin bệnh nhân này từng dùng corticosteroid vì cường giáp, người bác sĩ sẽ biết cái gốc của vấn đề là corticosteroid, là cường giáp, và phải điều trị cường giáp, còn loãng xương chỉ là hệ quả. Như vậy, con AI trả lời đúng nhưng chưa đủ, có thể do người bác sĩ chưa cho con AI biết thêm những thông tin khác.

- Đó là nhìn về phía bác sĩ. Còn nhìn từ phía bệnh nhân, việc ứng dụng AI, Big Data cho ra thuần túy những dữ liệu khô khan. Liệu có nên lo ngại tính nhân văn, sự thấu cảm của người thầy thuốc bị giảm đi khi lệ thuộc vào AI mà thiếu đi sự tương tác với bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân yếu thế ít dám thổ lộ?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Tôi nghĩ người bác sĩ luôn cần chủ động tương tác với bệnh nhân. Đặc biệt, sự tương tác của người thầy thuốc với người bệnh có thể mang lại những thông tin hỗ trợ về lâm sàng rất tốt. Ví dụ khi mình tương tác, mình hỏi bệnh nhân có từng bị loãng xương, bị gãy xương hay không. Bệnh nhân nói ra, xác nhận là từng bị. Những thông tin như vậy rất quan trọng, sẽ giúp thay đổi phác đồ điều trị cho phù hợp.

Bác sĩ chỉ nên coi AI là một trợ lí thông minh, chứ không nên để cho AI suy nghĩ và suy luận thay mình. Ví dụ, thay vì tải lên một hình ảnh và bảo AI chẩn đoán hay đánh giá, bác sĩ nên chẩn đoán và đánh giá trước, rồi sau đó mới hỏi AI như là một ý kiến thứ hai. Còn nếu để cho AI suy luận trước thì người sử dụng AI rất dễ bị lệ thuộc và thoái hoá kĩ năng.

nguyen-van-tuan3_08.jpg
nguyen-van-tuan3_10.jpg

- Giáo sư đã về Việt Nam giảng dạy và làm nghiên cứu hơn 25 năm. Theo giáo sư, những rào cản, khó khăn lớn nhất đối với nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y khoa tại Việt Nam hiện nay là gì?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Rào cản thứ nhất là Việt Nam còn thiếu một văn hóa khoa học. Hồi tôi còn làm Giám đốc Viện nghiên cứu Tâm Anh, tôi từng rất khổ tâm khi phải xử lí những ca xung đột, mâu thuẫn kiểu “đã có Chu Du thì không có Gia Cát Lượng”. Rồi những cách hành xử thiếu chuyên nghiệp, như phao tin nhảm và công kích cá nhân. Tôi nhức đầu vì những trường hợp đó. Điều này rất khác với văn hóa phương Tây, dù bất đồng ý kiến với nhau nhưng đã là mục tiêu chung thì cả hai cùng làm.

Thứ hai là "có thực mới vực được đạo". Kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam quá hạn chế. Nguồn kinh phí Nhà nước tài trợ eo hẹp. Đơn cử công trình giải mã gen của chúng tôi, nhà nước tài trợ kinh phí vài tỉ đồng, trong khi thực sự phải cần đến 2 triệu USD. Ở nước ngoài tôi có thể "gõ cửa" các tập đoàn kinh tế xin tài trợ; nhưng ở Việt Nam, tôi thấy các "đại gia" ít khi nào tài trợ cho khoa học.

Thứ ba là thiếu con người. Thử đặt câu hỏi, nếu cần tìm một tổng công trình sư nghiên cứu y khoa ở Việt Nam hiện nay, sẽ là ai? Rất khó. Các thầy cô, bác sĩ ở Việt Nam rất có năng lực nhưng đa số làm lâm sàng, khám chữa bệnh và ... "cơm áo gạo tiền". Họ thiếu thì giờ để tập trung toàn tâm trí vào nghiên cứu khoa học để tìm ra cái mới.

Việt Nam thực sự đang rất thiếu những người có tâm huyết và có tài trong nghiên cứu khoa học. Có tài ở đây hiểu theo nghĩa là ở vai trò lãnh đạo tri thức, được cộng đồng quốc tế kính nể, bước vào một hội nghị quốc tế là người ta biết ngay người đó là ai và có đóng góp gì mang tính "chữ kí".

nguyen-van-tuan3_12.jpg
nguyen-van-tuan3_14.jpg
nguyen-van-tuan4_01.jpg

- Hệ quả của những cái thiếu như giáo sư đề cập, có thể là gì?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Hệ quả là chúng ta thiếu những công nghệ lõi, thiếu các phát kiến. Tôi đơn cử hôm nay, tôi ngồi cả ngày nghe qua hàng chục đề tài nghiên cứu khoa học tại một bệnh viện ở TP.HCM. Có những đề tài cho rằng sử dụng AI, xây dựng AI làm cái này hay cái kia. Nhưng tôi nhận thấy, đó không phải là xây dựng mô hình AI, mà chỉ là sử dụng phần mềm có sẵn, cho nên không thể nói là xây dựng mô hình.

Trong y học, công nghệ lõi còn được hiểu là sự khám phá ra một phân tử hay một protein mới, một con đường sinh học mới, một thuật toán mới, …v.v… làm nền tảng hay mở ra một định hướng mới cho chuyên ngành. Những thứ này cần có khoa học cơ bản vững vàng. Nhưng ở Việt Nam, khoa học cơ bản chưa được xem trọng, và các nhà khoa học cơ bản thường rất thiệt thòi so với người làm lâm sàng. Từ đó, sinh viên không muốn theo đuổi nghiên cứu cơ bản, họ chỉ theo đuổi nghiên cứu lâm sàng. Mà, nghiên cứu lâm sàng đâu có cho ra công nghệ lõi. Không có công nghệ lõi, chúng ta sẽ chỉ sử dụng phác đồ điều trị của thiên hạ làm sẵn, thuốc cũng có sẵn, mình chỉ áp dụng vào điều trị mà thôi.

nguyen-van-tuan4_03.jpg
nguyen-van-tuan4_05.jpg

- Tôi đọc blog của giáo sư, đặc biệt ở phần Dòng đời qua hình ảnh” có thể thấy rất rõ sự kết nối tình cảm với quê hương qua hình ảnh ngôi nhà cũ của ba má, họ hàng, láng giềng chòm xóm, vườn cây và cả chú chó vàng “lúc nào cũng chờ tôi về”. Có nên hiểu đây là tâm thế của một người không thể chạy trốn được nỗi nhớ quê hương?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Tôi nghĩ những người ra đi ở thế hệ của tôi khi đó đã ngoài 20 tuổi luôn có một sợi dây tình cảm với Việt Nam. Họ cho dù có quan điểm khác nhau nhưng cùng có sự gắn bó tình cảm với quê hương Việt Nam. Cái căn cước tính Việt Nam nó hằn trong máu, cơ thể và tiếng nói rồi. Có lần tôi nói chuyện trong một hội nghị y khoa quốc tế, một đồng nghiệp nước ngoài hỏi tôi “Giáo sư Nguyễn, anh đến từ đâu?”. Tôi trả lời rằng tôi đến từ Úc. Họ tỏ vẻ chưa đồng tình. Khi đó tôi mới sực hiểu ra chủ ý câu hỏi và trả lời lại rằng “tôi đến từ Việt Nam”. Vị đồng nghiệp mới cười có vẻ thỏa mãn. Qua câu chuyện vui cho thấy, dù đi đâu và dù là ai, mình cũng không thể chạy trốn cái gốc Việt Nam của mình, mà cũng chẳng có lí do gì chối bỏ cái gốc của mình cả.

Tôi có nói một câu từ đáy lòng mà nhiều người cũng hay nhắc lại: “Tôi làm bất cứ việc gì, tôi cũng nghĩ đến Việt Nam”. Đơn cử trong các bài viết, dù đề cập đến chuyện các nước, nhưng rồi cũng sẽ có phần về Việt Nam, ví dụ như Việt Nam nên tham khảo cái này, nghiên cứu cái kia… Khi tôi qua Singapore, thấy họ tổ chức một đội ngũ theo dõi hậu phẫu những bệnh nhân đang được điều trị sau khi bị gãy xương, về Việt Nam tôi gặp các bác sĩ phẫu thuật và đề nghị triển khai luôn dự án. Gần đây, mô hình này cũng đã được triển khai ở Bệnh viện Thống Nhất và Hệ thống Bệnh viện SAIGON-ITO.

- Chi tiết chú chó vàng luôn đợi tôi về được viết trong blog, có khi nào mang tới cho giáo sư bài học về tình yêu thương và gắn bó?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Nó dạy cho tôi bài học về lòng trung thành, không quên những người thân quen và những người đã giúp mình. Ngày xưa tôi phải đi xuồng từ bên này sông sang bên kia sông. Giờ có cầu rồi, xe về tới tận nhà. Nó đứng ngay cây cầu đó chờ tôi về…

nguyen-van-tuan4_07.jpg

- Thưa giáo sư, trong khoa học, bài học về lòng trung thành, sự gắn bó, tình yêu thương mang lại giá trị gì?

- GS. Nguyễn Văn Tuấn: Giống như ngoài xã hội đời thường, trong khoa học cũng có giai tầng, cần có lòng trung thành, sự gắn bó và tình yêu thương. Nhiều em du học sinh Việt Nam ngộ nhận rằng ở phương Tây không đối xử theo nghĩa tình. Thực tế ở phương Tây cũng có mối quan hệ tình nghĩa, trên dưới, sĩ diện… Khi mình bước vào một “bộ lạc” mình cần biết ai là ai, vị nào là trưởng lão, đối xử một cách trân trọng và tốt đối với họ, để mai mốt mình ra trường họ có thể giúp mình. Như lời nhạc của Trịnh Công Sơn “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”. Triết lí Phật giáo có nói tới Duyên - Khởi. Chúng ta tồn tại trong thế giới này không phải chỉ có mỗi một mình, mà còn có mối liên kết với sự giúp đỡ của rất nhiều người xung quanh.

- Xin cảm ơn giáo sư về cuộc trò chuyện đầy tâm huyết!

nguyen-van-tuan4_09.jpg
nguyen-van-tuan4_11.jpg
nguyen-van-tuan4_14.jpg

GS. Nguyễn Văn Tuấn là một trong số ít trí thức Việt kiều đã đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực y khoa ở tầm toàn cầu. Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Úc, Viện sĩ Hoàng gia Học viện New South Wales. Năm 2022, ông được Toàn quyền Úc thay mặt Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị trao Huân chương Australia vì những đóng góp quan trọng cho y học, loãng xương và giáo dục đại học. Ông cũng là nhà khoa học có những nghiên cứu đỉnh cao, nằm trong top 1% các chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực y khoa và chuyên ngành loãng xương. Nhưng với ông, những “di sản” ấy là để sẻ chia, cho đi. Ông đã cho đi trên phạm vi toàn cầu với mô hình đánh giá nguy cơ gãy xương Nguyen’s Model (Garvan Fracture Risk Calculator) nổi tiếng.

Với quê hương Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Tuấn đã có những đóng góp và gieo mầm bằng hàng trăm khóa giảng dạy về y học thực chứng, phương pháp nghiên cứu khoa học, công bố khoa học, hàng chục đầu sách, hướng dẫn nhiều lứa nghiên cứu sinh… Và đặc biệt, ông để lại dấu ấn đậm nét khi đồng sáng lập dự án nghiên cứu VOS có quy mô và tầm ảnh hưởng hàng đầu trong lĩnh vực y khoa tại Việt Nam và trong vùng Á châu.

Thẩm Hồng Thụy (thực hiện)