Tài sản mã hóa

Ai sẽ hưởng lợi khi thị trường tài sản mã hóa chính thức vận hành?

Bùi Tú 08/09/2026 19:01

Thị trường tài sản mã hóa Việt Nam đang trong giai đoạn thí điểm. Khi thị trường tài sản mã hóa chính thức được thiết lập, lợi ích sẽ mở ra cho những doanh nghiệp đứng ở giao điểm giữa tài chính, công nghệ và tài sản thực.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh (giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam) trao đổi riêng với Tạp chí Một Thế Giới, bên cạnh các tổ chức tài chính và doanh nghiệp công nghệ, nhóm sở hữu những tài sản thực có chất lượng, pháp lí rõ ràng và dữ liệu đủ tin cậy có thể trở thành một trong những bên hưởng lợi đáng chú ý nhất từ xu hướng token hóa.

TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Lợi thế ban đầu trên thị trường tài sản mã hóa thuộc về các tổ chức tài chính

Thị trường tài sản mã hóa khi chuyển từ giai đoạn thử nghiệm sang vận hành chính thức sẽ tạo ra nhu cầu lớn về những năng lực vốn đã quen thuộc với ngành tài chính: xác minh khách hàng, thanh toán, lưu kí, quản trị rủi ro và tuân thủ. Đây là lí do các tổ chức tài chính có thể nằm trong nhóm hưởng lợi sớm.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, không nên kì vọng một ngành duy nhất sẽ chiếm ưu thế trong nền kinh tế tài sản số. Lợi thế nhiều khả năng thuộc về những doanh nghiệp có khả năng kết nối được ba yếu tố: tài chính, công nghệ và tài sản thực có thể xác minh.

Trong đó, các tổ chức tài chính có một điểm xuất phát tương đối thuận lợi bởi họ đã sở hữu hệ thống nghiệp vụ và kinh nghiệm cần thiết để vận hành một thị trường được quản lí chặt chẽ.

Một thị trường tài sản mã hóa không chỉ cần nền tảng giao dịch. Đằng sau mỗi giao dịch còn là cả hệ thống xác minh danh tính, phòng chống gian lận, kiểm soát rủi ro, thanh toán và lưu kí tài sản. Đây đều là những lĩnh vực mà các ngân hàng, công ty chứng khoán và các định chế tài chính đã có kinh nghiệm.

Đặc biệt, nếu khuôn khổ pháp lí yêu cầu sự tham gia đáng kể của các tổ chức trong cơ cấu sở hữu của đơn vị vận hành thị trường được cấp phép, lợi thế của nhóm doanh nghiệp này càng trở nên rõ rệt.

Điều đó có thể tạo ra một cấu trúc thị trường trong đó tài chính truyền thống không bị thay thế bởi tài sản số, mà trở thành một trong những nền tảng để thị trường tài sản mã hóa phát triển.

Đây cũng là điểm cần phân biệt giữa tài sản mã hóa và một hệ sinh thái tiền số hoạt động hoàn toàn ngoài hệ thống tài chính truyền thống. Khi thị trường được đưa vào khuôn khổ pháp lí, những yêu cầu về nhận diện khách hàng, kiểm soát dòng tiền, quản trị rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư sẽ trở thành một phần không thể thiếu.

Vì vậy, năng lực tuân thủ có thể không còn được xem đơn thuần là chi phí của doanh nghiệp. Trong thị trường tài sản số được quản lí, đây có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh.

Các tổ chức đã có hệ thống quản trị và kiểm soát rủi ro tốt sẽ có khả năng thích nghi nhanh hơn, trong khi những doanh nghiệp chỉ có công nghệ giao dịch nhưng thiếu nền tảng quản trị có thể gặp khó khăn khi thị trường bước vào giai đoạn chính thức.

Doanh nghiệp công nghệ không nhất thiết phải mở sàn mới hưởng lợi

Nếu các tổ chức tài chính nắm lợi thế về vốn, tuân thủ và quản trị rủi ro thì doanh nghiệp công nghệ lại có cơ hội ở một lớp khác của thị trường: hạ tầng.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, nhóm doanh nghiệp công nghệ có khả năng hưởng lợi đáng kể, đặc biệt là những công ty hoạt động trong các lĩnh vực như an ninh mạng, blockchain, định danh, giám sát giao dịch, xác minh dữ liệu và công nghệ quản lí tuân thủ. Điểm đáng chú ý là cơ hội không nhất thiết nằm ở việc trực tiếp vận hành một sàn giao dịch tài sản mã hóa.

Một thị trường quy mô lớn cần rất nhiều lớp hạ tầng phía sau. Càng nhiều tài sản được đưa lên môi trường số, nhu cầu xác thực giao dịch và bảo vệ tài sản số càng tăng. Càng nhiều người tham gia, yêu cầu về định danh và kiểm soát rủi ro càng cao. Điều này tạo ra thị trường cho những doanh nghiệp cung cấp công nghệ nền tảng.

Chẳng hạn, một hệ thống giao dịch có thể cần công cụ phát hiện giao dịch bất thường theo thời gian thực. Một đơn vị lưu kí cần giải pháp bảo mật để bảo vệ tài sản. Một doanh nghiệp token hóa tài sản thực cần hệ thống liên kết giữa dữ liệu trên blockchain với thông tin pháp lí và dữ liệu ngoài chuỗi.

Trong tất cả những trường hợp đó, blockchain chỉ là một phần của bài toán. Những công nghệ như trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, định danh số và an ninh mạng có thể trở thành các lớp bổ trợ quan trọng.

Điều này mở ra một hướng tiếp cận đáng chú ý đối với doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Thay vì cạnh tranh trực tiếp để trở thành một nền tảng giao dịch, họ có thể tham gia vào thị trường với vai trò nhà cung cấp công nghệ cho nhiều đơn vị cùng lúc.

Nếu một giải pháp có thể được triển khai cho nhiều sàn, tổ chức lưu kí, doanh nghiệp phát hành hoặc tổ chức tài chính, quy mô thị trường tiềm năng sẽ không phụ thuộc vào một đơn vị vận hành duy nhất.

Đây cũng là lí do cuộc cạnh tranh trong nền kinh tế tài sản số có thể diễn ra ở nhiều tầng khác nhau. Tầng giao dịch là phần dễ nhìn thấy nhất, nhưng phía sau còn có cả một hệ sinh thái gồm định danh, dữ liệu, lưu kí, bảo mật, thanh toán, quản trị rủi ro và tuân thủ.

Những doanh nghiệp sở hữu năng lực ở các lớp hạ tầng này có thể hưởng lợi ngay cả khi không trực tiếp phát hành hay mua bán token.

Tài sản thực và dữ liệu mới là “nguồn lực khan hiếm”

Nhóm thứ ba được Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh đánh giá có tiềm năng đặc biệt là các doanh nghiệp sở hữu tài sản thực có chất lượng và có thể xác minh. Đây có thể là một trong những thay đổi quan trọng nhất nếu xu hướng token hóa phát triển tại Việt Nam.

Trong cách hiểu đơn giản, token hóa là quá trình đưa quyền hoặc lợi ích kinh tế gắn với một tài sản lên môi trường kĩ thuật số thông qua token. Nhưng để một token có giá trị bền vững, yếu tố quan trọng không chỉ nằm ở công nghệ tạo token mà còn ở tài sản đứng phía sau.

Một token đại diện cho tài sản thực sẽ khó có giá trị nếu tài sản cơ sở không rõ ràng, không thể xác minh hoặc quyền sở hữu không được pháp luật bảo đảm.

Ngược lại, những doanh nghiệp đang sở hữu tài sản có chất lượng, được định giá và kiểm toán độc lập, đồng thời có mối liên hệ pháp lí rõ ràng với công cụ kĩ thuật số, có thể có thêm một phương thức huy động vốn mới. Đây là điểm khiến token hóa có thể tạo ra sự khác biệt so với việc đơn thuần phát hành thêm một loại tài sản số.

Nếu một doanh nghiệp có tài sản thực nhưng khó huy động vốn theo các phương thức truyền thống, việc số hóa quyền hoặc lợi ích kinh tế gắn với tài sản đó có thể mở rộng khả năng tiếp cận nhà đầu tư, tất nhiên với điều kiện đáp ứng đầy đủ yêu cầu pháp lí và cơ chế bảo vệ quyền lợi liên quan.

Từ góc độ này, tài sản thực có thể trở thành nền móng của nền kinh tế tài sản số. Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh cho rằng nguồn lực khan hiếm trong giai đoạn tiếp theo có thể không phải là token, mà là những tài sản cơ sở đáng tin cậy và dữ liệu đáng tin cậy về các tài sản đó.

Nhận định này đặc biệt đáng chú ý bởi trong giai đoạn đầu của thị trường tài sản mã hóa, sự chú ý thường tập trung vào công nghệ blockchain, sàn giao dịch hoặc các loại token mới. Nhưng khi thị trường phát triển, câu hỏi quan trọng hơn sẽ là token đại diện cho cái gì và nhà đầu tư có thể xác minh điều đó bằng cách nào.

Một bất động sản, khoản phải thu, hàng hóa hay tài sản tài chính chỉ có thể trở thành nền tảng đáng tin cậy cho token hóa khi quyền sở hữu, giá trị, tình trạng pháp lí và dữ liệu liên quan được xác thực. Do đó, doanh nghiệp sở hữu tài sản tốt nhưng đồng thời có khả năng xây dựng hệ thống dữ liệu minh bạch sẽ có lợi thế lớn.

Điều này cũng có thể tạo ra một tiêu chuẩn mới cho doanh nghiệp. Trước đây, một tài sản tốt chủ yếu được đánh giá qua giá trị kinh tế và khả năng sinh lời. Trong nền kinh tế tài sản số, khả năng xác minh và số hóa tài sản có thể trở thành một phần của giá trị.

Nhìn rộng hơn, thị trường tài sản mã hóa có thể tạo ra sự kết nối giữa ba nhóm doanh nghiệp gồm tổ chức tài chính cung cấp vốn và năng lực quản trị; doanh nghiệp công nghệ cung cấp hạ tầng; còn doanh nghiệp sở hữu tài sản thực cung cấp “hàng hóa cơ sở” cho thị trường. Những doanh nghiệp có thể kết hợp được cả ba yếu tố sẽ có vị thế đặc biệt thuận lợi.

Vì vậy, khi thị trường tài sản mã hóa chính thức vận hành, cuộc cạnh tranh có thể không đơn giản là ai tạo ra token nhiều hơn hay ai sở hữu một nền tảng giao dịch lớn hơn. Lợi thế dài hạn có thể thuộc về những doanh nghiệp tạo được niềm tin có thể kiểm chứng: tài sản thật, dữ liệu thật, quyền sở hữu rõ ràng và hạ tầng công nghệ đủ an toàn.

Nếu giai đoạn đầu của tài sản số là cuộc chơi của công nghệ, thì giai đoạn trưởng thành có thể sẽ là cuộc chơi của niềm tin, dữ liệu và tài sản cơ sở. Đây cũng có thể là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào nền kinh tế tài sản số, thay vì chỉ đứng ở vai trò người sử dụng các nền tảng do bên ngoài phát triển.

Bùi Tú