Quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài đối với tài sản mã hóa
Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 của Chính phủ quy định các mức xử phạt đối với hành vi vi phạm trong giao dịch tài sản mã hóa có yếu tố nhà đầu tư nước ngoài.
Nghị định đồng thời đặt ra trách nhiệm cụ thể đối với ngân hàng được phép trong việc chuyển tiền phục vụ hoạt động mua, bán tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Giao dịch tài sản mã hóa phải đúng đối tượng, đúng kênh
Điều 9 Nghị định số 284/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về giao dịch tài sản mã hóa. Đáng chú ý, quy định này phân biệt hai nhóm hành vi của nhà đầu tư trong nước, với mức phạt khác nhau.
Theo khoản 1 Điều 9, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa do Bộ Tài chính cấp phép theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP sẽ bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
Điểm cần lưu ý là quy định đề cập rõ vào kênh thực hiện giao dịch. Nhà đầu tư trong nước khi tham gia giao dịch phải thực hiện thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa được cấp phép theo quy định. Vì vậy, việc giao dịch bên ngoài các tổ chức thuộc phạm vi được pháp luật cho phép có thể dẫn đến xử phạt.
Khoản 2 Điều 9 quy định mức phạt cao hơn, từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng, đối với nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa được chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP.
Như vậy, Điều 9 không chỉ đặt ra yêu cầu về nơi thực hiện giao dịch mà còn phân định rõ loại tài sản mã hóa mà nhà đầu tư trong nước được phép giao dịch. Hai hành vi đều liên quan đến nhà đầu tư trong nước nhưng mức phạt khác nhau, trong đó hành vi liên quan đến tài sản mã hóa được chào bán, phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài chịu mức phạt cao hơn.
Nhà đầu tư nước ngoài và ngân hàng đều có trách nhiệm
Nếu Điều 9 tập trung vào hành vi giao dịch của nhà đầu tư trong nước, Điều 10 mở rộng phạm vi xử phạt sang nhà đầu tư nước ngoài và ngân hàng được phép, liên quan đến việc chuyển tiền phục vụ giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Theo khoản 1 Điều 10, nhà đầu tư nước ngoài vi phạm quy định về mở, đóng, sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến mua, bán tài sản mã hóa tại Việt Nam có thể bị phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
Mức phạt từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng được áp dụng nếu nhà đầu tư nước ngoài không bảo đảm tính xác thực, hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, tài liệu, thông tin, dữ liệu cung cấp cho ngân hàng được phép nơi mở tài khoản chuyên dùng; hoặc không kê khai trung thực, đầy đủ nội dung giao dịch liên quan đến mua, bán tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Điều 10 đồng thời quy định trách nhiệm của ngân hàng được phép nơi nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản chuyên dùng. Nếu ngân hàng chậm báo cáo bằng văn bản về tổng hợp tình hình thu, chi trên tài khoản chuyên dùng dưới 15 ngày so với thời hạn quy định, mức phạt là 50-70 triệu đồng. Nếu thời gian chậm từ 15 ngày trở lên, mức phạt tăng lên 70-100 triệu đồng.
Ngoài vấn đề báo cáo, ngân hàng có thể bị phạt từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng nếu không kiểm tra, không lưu giữ hoặc lưu giữ không đầy đủ, không phù hợp giấy tờ, chứng từ liên quan đến giao dịch trên tài khoản chuyên dùng; không ban hành hoặc ban hành không đầy đủ quy định nội bộ về hồ sơ, trình tự, thủ tục mở và sử dụng tài khoản; không công khai các quy định nội bộ để nhà đầu tư nước ngoài biết và thực hiện; hoặc mở, đóng tài khoản, thực hiện các giao dịch thu, chi không đúng quy định pháp luật.
Có thể thấy, Điều 9 và Điều 10 thiết lập các yêu cầu khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ: Nhà đầu tư phải giao dịch đúng phạm vi, đúng kênh và tuân thủ quy định về tài khoản, hồ sơ, kê khai; trong khi ngân hàng được phép phải thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra, lưu giữ chứng từ, quản lí tài khoản và báo cáo. Đây là cơ sở để cơ quan quản lí kiểm soát cả hoạt động giao dịch tài sản mã hóa và dòng tiền liên quan đến giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài.
.jpg)
