Lầu Năm Góc 'khóa chặt' tàu sân bay Trung Quốc bằng cách nào?
Trong nhiều năm, Mỹ lo tàu sân bay sẽ trở thành mục tiêu của tên lửa chống hạm, tàu ngầm và mạng lưới trinh sát Trung Quốc.
Một báo cáo mới của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) đề xuất đảo ngược cách nhìn đó. Nếu Bắc Kinh đã xây cả một hệ thống để đẩy tàu sân bay Mỹ ra xa, Washington và đồng minh cũng có thể khiến tàu sân bay Trung Quốc phải hoạt động dưới sức ép tương tự.

Báo cáo có tên Flipping the Script, công bố ngày 3/8, không phải kế hoạch chính thức của Hải quân Mỹ. Nhóm tác giả cho rằng hạm đội tàu sân bay Trung Quốc vừa là thách thức, vừa tạo ra điểm dễ tổn thương mới vì đây là những mục tiêu lớn, đắt tiền, khó thay thế và phụ thuộc vào cảm biến, liên lạc, hậu cần cùng tàu hộ tống. Chính CSIS cũng ghi rõ quan điểm trong báo cáo thuộc về các tác giả, không đại diện cho chính phủ Mỹ.
CSIS không tìm một “vũ khí diệt tàu sân bay” duy nhất. Ý tưởng là tạo nhiều lớp sức ép từ dưới biển, trên bờ, trên không, không gian mạng tới phương tiện không người lái, khiến việc đưa tàu sân bay ra gần Đài Loan, Biển Đông hoặc xa hơn chuỗi đảo thứ nhất trở nên rủi ro hơn.
Khi tàu sân bay Trung Quốc thành mục tiêu
Trung Quốc đã dành nhiều năm xây dựng năng lực chống tiếp cận nhằm giữ lực lượng Mỹ ở xa bờ biển. Tên lửa đạn đạo chống hạm như DF-21D và DF-26 thường được gọi là “sát thủ tàu sân bay”, nhưng chúng chỉ là một phần trong hệ thống gồm vệ tinh, radar tầm xa, máy bay, tàu ngầm và các nền tảng trinh sát khác.

CSIS cho rằng cuộc tranh luận ở Mỹ đôi khi chỉ nhìn một chiều. Tàu sân bay Mỹ là mục tiêu lớn, nhưng tàu sân bay Trung Quốc cũng vậy. Muốn đánh trúng một con tàu đang cơ động, bên tấn công phải giữ được chuỗi phát hiện và theo dõi đủ lâu, trong khi chuỗi này có thể bị gây nhiễu hoặc phá vỡ.
Trung Quốc hiện có ba tàu sân bay đã biên chế gồm Liêu Ninh, Sơn Đông và Phúc Kiến. Phúc Kiến, chiếc đầu tiên của Trung Quốc sử dụng máy phóng điện từ, được biên chế tháng 11/2025. Báo cáo thường niên của Lầu Năm Góc năm 2025 cho biết Hải quân Trung Quốc đặt mục tiêu có tổng cộng 9 tàu sân bay vào năm 2035.
Với CSIS, những con tàu này vừa giúp Trung Quốc mở rộng khả năng kiểm soát trên biển, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho tham vọng xây dựng hải quân biển xanh. Chỉ riêng việc buộc một nhóm tác chiến tàu sân bay phải tránh xa khu vực tranh chấp hoặc dành thêm nguồn lực cho tự bảo vệ cũng có thể làm giảm giá trị sử dụng của chúng.

Lớp đầu tiên nằm dưới mặt nước
Trong năm hướng mà CSIS đưa ra, tàu ngầm được đặt ở vị trí đầu tiên. Nhóm nghiên cứu đánh giá chống ngầm vẫn là điểm yếu tương đối của Hải quân Trung Quốc so với Mỹ và Nhật Bản, đặc biệt ở vùng biển ven bờ nhiều tiếng ồn và các lối ra vào hẹp. Đây là đánh giá của nhóm tác giả CSIS, không phải kết luận đã được kiểm chứng trong chiến đấu thực tế.

Báo cáo đề xuất kết hợp tàu ngầm hạt nhân tấn công của Mỹ với tàu ngầm thông thường của đồng minh và phương tiện không người lái dưới nước. Mục đích là buộc các nhóm tàu sân bay Trung Quốc luôn phải tính tới nguy cơ bị theo dõi hoặc chặn đánh khi rời vùng biển gần bờ.
Nhưng Mỹ cũng có hạn chế. CSIS thừa nhận các nhà máy đóng tàu đang không sản xuất đủ tàu ngầm lớp Virginia theo tốc độ Hải quân mong muốn. Báo cáo ước tính sản lượng hiện quanh 1,2 chiếc mỗi năm, thấp hơn mục tiêu hai chiếc, trong khi AUKUS còn làm nhu cầu tăng thêm.
Nhóm tác giả vì thế đề nghị bổ sung nhiều ngư lôi hơn, phương tiện không người lái dưới nước và cơ sở hỗ trợ tại các nước đồng minh. Mục tiêu không nhất thiết phải đánh chìm tàu sân bay. Chỉ cần buộc Bắc Kinh tăng tàu hộ tống, máy bay chống ngầm và cảm biến dưới biển cũng đã làm chi phí triển khai đội tàu tăng lên.
Từ bờ biển tới trên không
Lớp tiếp theo là hỏa lực chống hạm bố trí trên đất liền. CSIS muốn tận dụng địa lí Tây Thái Bình Dương, nơi các nhóm tàu Trung Quốc khi ra vùng biển rộng phải đi qua một số hành lang quanh chuỗi đảo thứ nhất.

Báo cáo đề xuất dùng các đơn vị cơ động của Thủy quân lục chiến, Lục quân và lực lượng đồng minh để tạo sức ép từ bờ. Khi kết hợp với trinh sát, tên lửa chống hạm trên đất liền có thể buộc tàu sân bay Trung Quốc phải đi xa hơn, tăng hộ tống hoặc thay đổi tuyến hoạt động.
Trên không, máy bay ném bom, chiến đấu cơ và máy bay tuần tra biển của Mỹ có thể mang tên lửa chống hạm tầm xa, còn vệ tinh và cảm biến khác hỗ trợ tìm kiếm mục tiêu. CSIS cũng đưa tác chiến điện tử và không gian mạng vào cùng bức tranh, bởi nhóm tàu sân bay hiện đại phụ thuộc lớn vào liên lạc, radar, định vị và dữ liệu trinh sát.
Lớp cuối là các phương tiện không người lái. Nhóm tác giả dẫn kinh nghiệm Ukraine ở Biển Đen, nơi xuồng không người lái và tên lửa chống hạm đã buộc Hạm đội Biển Đen của Nga phải phân tán một phần lực lượng. Tây Thái Bình Dương khác xa Biển Đen, nhưng số lượng lớn nền tảng rẻ hơn vẫn có thể buộc một hạm đội đắt tiền tiêu tốn thời gian và vũ khí để tự bảo vệ.
Như vậy, “khóa chặt” không phải dựng một vòng phong tỏa cố định quanh tàu sân bay. Báo cáo muốn tạo ra nhiều mối đe dọa chồng lên nhau. Nếu tránh được tàu ngầm, nhóm tàu vẫn phải tính tới tên lửa từ bờ. Nếu rời xa bờ biển, chúng lại có thể đối mặt với hỏa lực đường không, mạng lưới trinh sát và phương tiện không người lái.
Muốn gây sức ép, Mỹ cũng phải đổi hạm đội
Đề xuất này kéo theo thay đổi lớn về cách Mỹ xây hạm đội. Kế hoạch “hạm đội lai” hiện được CSIS mô tả gồm khoảng 350 tàu có người lái và 150 phương tiện không người lái. Nhóm nghiên cứu muốn tiến gần hơn tới tỷ lệ 300 tàu có người lái và 300 hệ thống không người lái trong thập niên 2030.

Các phương tiện không người lái có thể đảm nhiệm trinh sát, nghi binh, cảm biến hoặc một số nhiệm vụ tấn công với chi phí thấp hơn, để tàu chiến có người lái tập trung vào nhiệm vụ phức tạp.
Một vấn đề khác là đạn dược. CSIS cảnh báo Mỹ không thể dựa vào việc mọi tên lửa LRASM, SM-6 hay Naval Strike Missile đều được sản xuất ở Bắc Mỹ rồi vận chuyển qua Thái Bình Dương khi chiến sự đã bắt đầu.
Báo cáo vì thế kêu gọi mở rộng đồng sản xuất với Australia, Nhật Bản và các đối tác khác. Mỹ và Australia đã có thỏa thuận về một số loại đạn dẫn đường, còn Nhật Bản tăng hợp tác công nghiệp quốc phòng với Washington. Mục tiêu là mở rộng năng lực sản xuất và rút ngắn chuỗi tiếp tế trong khu vực.
Điểm cần lưu ý là đây chưa phải chiến lược được Lầu Năm Góc thông qua. Một số giả định, như mức độ yếu của năng lực chống ngầm Trung Quốc hay khả năng đồng minh cho phép bố trí lực lượng và kho đạn, còn phụ thuộc vào điều kiện thực tế.


