Giáo sư Hồ Đắc Di(Kì 3): Sứ mệnh giữ lửa y khoa giữa đạn bom chiến khu
Tránh xa ánh hào quang đô thị và những phòng mạch sang trọng, Giáo sư (GS) Hồ Đắc Di đã chọn bám trụ lại chốn rừng thiêng nước độc Việt Bắc. Tại đây, bằng đôi tay vàng ngoại khoa và bản lĩnh kiên cường, ông đã chèo lái con thuyền Đại học Y khoa qua 13 lần chuyển dời, trực tiếp đào tạo nên những thế hệ thầy thuốc vừa hồng vừa chuyên cho đất nước.

Gian khó trăm bề và ngọn lửa tri thức không bao giờ tắt
ở chiến khu
Bước vào thời kì kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp xâm lược, sau khi hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và rời bỏ Thủ đô Hà Nội khói lửa, GS. Hồ Đắc Di cùng các đồng nghiệp bước vào một chương mới đầy thử thách tại căn cứ địa Việt Bắc. Thực tế chiến trường hiện ra vô cùng khắc nghiệt: Không có bệnh viện kiên cố, không có máy móc tối tân, thiếu thốn từ cây kim, sợi chỉ khâu vết thương cho đến thuốc men và lương thực.

Giữa núi rừng đại ngàn, nhiệm vụ duy nhất đặt lên vai vị hiệu trưởng và các cộng sự không chỉ là chữa bệnh cứu người, mà quan trọng hơn hết là duy trì mạch nguồn đào tạo thế hệ thầy thuốc tương lai. Trường Đại học Y khoa Hà Nội trong hoàn cảnh ấy phải liên tục di dời để tránh những đợt càn quét ác liệt của máy bay và pháo binh địch.
Thống kê lịch sử ghi nhận, trong suốt những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ, trường Y đã phải di chuyển qua tổng cộng 13 địa điểm khác nhau trên các vùng rừng núi thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn... Mỗi lần dời chuyển là một lần tháo dỡ lán trại, gùi sách vở, dụng cụ y tế trên lưng, lội suối băng ngàn. Thế nhưng, bất chấp bom đạn và hiểm nguy, những lớp học y khoa đặc biệt vẫn được dựng lên dưới tán lá rừng ngụy trang kín đáo.
Tại những lớp học dã chiến ấy, GS. Hồ Đắc Di vẫn đứng lớp giảng dạy với tất cả sự tâm huyết, trang nghiêm. Tiếng giảng bài của ông về giải phẫu học, về sinh lí bệnh và ngoại khoa vang lên đều đặn giữa tiếng chim rừng và tiếng suối chảy, truyền ngọn lửa đam mê khoa học cho các thế hệ sinh viên lúc bấy giờ. Đối với ông, việc duy trì trường Y không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức chuyên môn, mà đó còn là hành động khẳng định sức sống mãnh liệt của nền văn hóa và trí tuệ Việt Nam trước kẻ thù xâm lược.
Nhiệm vụ thiêng liêng và cổ truyền của trường đại học là đào tạo những người có văn hóa và có học thức, nghĩa là những cán bộ kỹ thuật và những con người tự do.
- GS. Hồ Đắc Di
Trong bức tranh toàn cảnh của cuộc kháng chiến, việc giữ cho mái trường Y khoa tồn tại không chỉ là một kì tích hành chính mà còn là một chiến công thầm lặng về mặt tư tưởng. Dưới sự chèo lái của ông, đội ngũ giảng viên và sinh viên đã tự mình vào rừng đốn gỗ dựng nhà, tự túc lương thực bằng cách tham gia sản xuất, tăng gia sản xuất bên cạnh giờ lên lớp và trực mổ. Những bài học vỡ lòng về y đức không nằm trên sách vở xa xôi mà được thấm đượm chính từ mồ hôi, gian khổ và tình nghĩa quân dân sâu đậm nơi núi rừng chiến khu. Sự gắn kết giữa thầy và trò trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy đã tạo nên một tinh thần đoàn kết sắt son, trở thành bệ phóng cho toàn bộ sự phát triển của ngành y tế nước nhà sau này.
Đôi tay vàng ngoại khoa
và những ca phẫu thuật huyền thoại dưới ánh đèn pin
Không chỉ giữ vai trò là một nhà quản lí giáo dục kiệt xuất, GS. Hồ Đắc Di còn trực tiếp là một phẫu thuật viên hàng đầu, đem đôi tay vàng của mình cứu sống vô số thương bộ đội và đồng bào. Giữa điều kiện rừng núi thiếu thốn trăm bề, khi mà các phương tiện gây mê, chiếu sáng hiện đại trở thành xa xỉ phẩm, ông đã cùng các cộng sự sáng tạo ra vô số phương pháp ứng phó linh hoạt với thực tế chiến thương khốc liệt.

Nhiều ca phẫu thuật phức tạp như mổ ổ bụng, cắt dạ dày, xử lí các vết thương thấu ngực hay áp-sê gan hiểm nghèo đã được thực hiện ngay trong những chiếc lán tranh vách nứa đơn sơ. Ánh sáng để phẫu thuật đôi khi chỉ là ngọn đèn pin chập chờn sắp hết pin, chiếc đèn bão mờ ảo hoặc thậm chí là ánh nến leo lét trong đêm tối.
Chính trong những hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, bản lĩnh thép, trực giác lâm sàng sắc bén và kinh nghiệm dày dặn từ những năm tháng làm việc tại các bệnh viện lớn ở Paris đã giúp GS. Hồ Đắc Di đưa ra những quyết định chính xác tính bằng tích tắc. Sự điềm tĩnh, tập trung cao độ của ông trên bàn mổ dã chiến đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn cho cả đội ngũ y bác sĩ và các thương binh đang oằn mình vì đau đớn.
Nghề không dung thứ bất cứ thứ gì trái đạo đức bởi vì nó liên quan đến cái tinh tế nhất là sự sống của con người.
- GS. Hồ Đắc Di
Bên cạnh việc trực tiếp cầm dao mổ cứu người, ông còn trực tiếp tham gia biên soạn các tài liệu, giáo trình y khoa ngắn gọn, thiết thực, bám sát các tổn thương thực tế thường gặp trên chiến trường. Những tài liệu này được in thô sơ trên giấy dó hoặc giấy báo cũ nhưng lại chứa đựng hàm lượng tri thức thực tiễn cực kì quý giá, trở thành cẩm nang gối đầu giường không thể thiếu cho các đội điều trị, quân y sĩ ở khắp các mặt trận. Ông luôn tâm niệm rằng người thầy thuốc trong thời chiến phải biết tận dụng tối đa những gì thiên nhiên và hoàn cảnh cho phép, không được nề hà hay chờ đợi điều kiện hoàn hảo mới cứu người.
Đào tạo thế hệ "thầy thuốc cách mạng"
vừa hồng vừa chuyên
Nhận thức sâu sắc rằng độc lập dân tộc muốn được giữ vững thì phải có một nền y tế độc lập phục vụ nhân dân, GS. Hồ Đắc Di luôn trăn trở về công tác đào tạo nhân lực. Ông hiểu rõ lực lượng bác sĩ được đào tạo thời Pháp thuộc là rất mỏng, không thể đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho cả một cuộc kháng chiến trường kì và toàn dân, toàn diện.

Chính vì vậy, ngay tại chiến khu Việt Bắc, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông, Trường Đại học Y khoa đã tổ chức các lớp đào tạo cấp tốc, các khóa huấn luyện y tá, dược sĩ và bác sĩ chiến khoa. Ông tự tay tuyển chọn học viên, kiểm tra khắt khe năng lực và trực tiếp truyền đạt những bài học vỡ lòng về đạo đức nghề nghiệp.
Đối với GS.,Hồ Đắc Di, một người thầy thuốc giỏi trước hết phải là một người có tấm lòng nhân ái bao la, biết thấu cảm sâu sắc với nỗi đau của người bệnh. Ông thường xuyên nhắc nhở các thế hệ sinh viên y khoa rằng chiếc áo blouse trắng chỉ thực sự có giá trị khi nó được khoác lên một tâm hồn trong sáng, đặt sinh mạng của người bệnh lên trên mọi danh lợi cá nhân.
Mục đích của việc dạy học không phải là nhồi nhét kiến thức, mà là khơi dậy ở người học tinh thần độc lập suy nghĩ, lòng say mê khoa học và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.
- GS. Hồ Đắc Di
Nhờ tầm nhìn chiến lược và phương pháp giáo dục mang tính thực tiễn cao của ông, hàng loạt thế hệ bác sĩ trưởng thành từ mái trường kháng chiến đã tỏa đi khắp các chiến trường, trực tiếp phục vụ trong các quân y viện, các chiến dịch lớn (như chiến dịch Biên giới 1950, chiến dịch Điện Biên Phủ 1954).
Họ chính là những người đã tiếp nối xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của người thầy, đặt những viên gạch hồng vững chắc cho nền y học hiện đại nước nhà sau ngày hòa bình lập lại. Quá trình rèn luyện gian khổ nơi rừng sâu không chỉ truyền đạt kĩ năng chuyên môn sắc bén, mà còn bồi đắp cho các thế hệ y bác sĩ một bản lĩnh chính trị vững vàng, một lòng trung thành tuyệt đối với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vượt qua hiểm nguy cận kề
và tấm lòng son sắt với cách mạng
Cuộc sống ở chiến khu Việt Bắc không chỉ có gian khổ do thiếu thốn vật chất, mà còn luôn rình rập những hiểm nguy từ các cuộc càn quét đẫm máu của thực dân Pháp. Do biết rõ vai trò đầu tàu của GS. Hồ Đắc Di cùng nhiều trí thức lớn khác trong việc duy trì và phát triển nền tảng giáo dục, y tế của chính quyền cách mạng, kẻ thù đã tìm đủ mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, treo thưởng cho đến khủng bố hòng làm lung lay ý chí của họ.

Đã có những thời điểm, máy bay do thám của địch bay lượn sát ngọn cây, phát loa gọi tên trực tiếp các trí thức lớn, hứa hẹn bổng lộc và địa vị nếu họ chịu quay trở về thành phố dưới sự bảo hộ của thực dân. Thế nhưng, trước những viên đạn bọc đường lẫn hiểm họa bom đạn sát thương cận kề, lập trường của vị giáo sư người Huế chưa từng mảy may dao động.
Trong những trang hồi kí sau này nhắc lại giai đoạn ấy, ông luôn xem việc đi theo kháng chiến là một sự lựa chọn tất yếu, một nghĩa vụ thiêng liêng của một công dân đối với Tổ quốc. Tình cảm gắn bó keo sơn giữa ông với đồng bào các dân tộc thiểu số ở chiến khu, với anh em bộ đội thương binh chính là nguồn động lực lớn lao giúp ông vượt qua mọi nghịch cảnh.
Phải phát hiện trong đám sinh viên những người có năng khiếu tìm tòi, rèn luyện cho họ óc quan sát, tính tò mò, tinh thần phê phán, khơi gợi ở họ lòng khát khao hiểu biết, bồi dưỡng cho họ trí tưởng tượng (...), biết vươn lên trên các sự kiện riêng lẻ, làm quen với các quy luật, biết suy luận một cách biện chứng, trung thực tuyệt đối trước các sự kiện.
- GS. Hồ Đắc Di (Sứ mạng và vai trò trường đại học - 1949)
Chính tinh thần bám trụ kiên cường, sự hi sinh thầm lặng nhưng vĩ đại ấy đã góp phần viết nên bản hùng ca của đội ngũ trí thức Việt Nam thế kỷ XX. Từ một vị công tử phủ tôn quen sống trong nhung lụa, GS. Hồ Đắc Di đã hoàn toàn hòa mình vào dòng chảy cách mạng của nhân dân, trở thành một biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, tinh thần phụng sự và y đức cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của ông trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp trường kì chính là minh chứng sinh động nhất cho sự hòa quyện tuyệt vời giữa trí tuệ uyên bác của khoa học phương Tây và tấm lòng son sắt, thủy chung với đất nước của một người con ưu tú dân tộc Việt Nam.
(Còn nữa)

