Nhịp đập công nghệ

Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ sinh học cần băng qua 'thung lũng chết'

Tuyết Nhung • 15/10/2026 20:30

Để kiến tạo hệ sinh thái công nghệ sinh học Việt Nam thì cần băng qua "thung lũng chết" bằng bài toán kết nối cung - cầu.

Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ sinh học

Tại Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số" chiều nay 15/10, ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), cho rằng để kiến tạo hệ sinh thái công nghệ sinh học Việt Nam thì cần băng qua "thung lũng chết" bằng bài toán kết nối cung - cầu.

Tại Việt Nam, quốc gia với hơn 70% dân số gắn liền với nông nghiệp, công nghệ sinh học được xác định là đòn bẩy chiến lược cho sự phát triển bền vững và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất. Dù sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú cùng hàng ngàn kết quả nghiên cứu công bố mỗi năm, khoảng 25% sáng chế cùng vô số công trình khoa học hiện vẫn nằm yên "trong tủ kính". Quá trình đưa tri thức từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn vấp phải vô vàn lực cản, đòi hỏi sự gắn kết đồng bộ của một hệ sinh thái thương mại hóa hoàn chỉnh.

ths.-le-thi-khanh-van-pho-chu-tich-hoi-thong-tin-kh-cn-viet-nam-vasti-(1).jpg
ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI).

Thực tế thương mại hóa công nghệ sinh học nông nghiệp chỉ ra một bài học nhãn tiền: chất lượng sản phẩm đầu ra phụ thuộc hoàn toàn vào độ đồng đều và chuẩn hóa của nguyên liệu đầu vào. Dự án chế biến sâu dưa hấu là một ví dụ điển hình khi vấp phải rào cản lớn do nguyên liệu không được trồng theo quy trình hữu cơ và thiếu sự can thiệp của công nghệ sinh học ngay từ khâu canh tác.

Thực tế này khẳng định một nguyên lí cốt lõi: hệ sinh thái công nghệ sinh học không thể vận hành đơn lẻ ở khâu chế biến, mà phải đạt tính bền vững, tuần hoàn và chuẩn hóa đồng bộ từ khâu đầu vào đến đầu ra.

Xét theo thang đo 9 cấp độ sẵn sàng của công nghệ (Technology Readiness Level - TRL), giữa nghiên cứu hàn lâm (TRL 1 - 3) và sản xuất thương mại (TRL 7 - 9) tồn tại một khoảng trống khổng lồ ở giai đoạn thử nghiệm bán công nghiệp (TRL 3 - 6), thường được giới chuyên môn gọi là "Thung lũng chết".

Để vượt qua vực sâu này, dự án cần một chiếc "cầu vàng" đòi hỏi rất nhiều nguồn lực: vốn đầu tư mạo hiểm, mô hình doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off/startup), mặt bằng nhà xưởng, tư vấn quản trị chuyên sâu và đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP). Vì chi phí quá đắt đỏ và lộ trình gập ghềnh, có tới 90% kết quả nghiên cứu đã bị gác lại hoặc "chết" trong thung lũng, chỉ vỏn vẹn 10% có cơ may tiếp cận thị trường.

Theo ThS. Lê Thị Khánh Vân, Phó Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự đứt gãy giữa nghiên cứu và thực tiễn là sự xung đột về tư duy và động lực giữa hai chủ thể chính.

Trong khi nhà khoa học hướng tới sự đột phá tri thức, tính chính xác tuyệt đối và các công bố quốc tế, thì doanh nghiệp lại chịu áp lực khốc liệt về lợi nhuận, thị phần và quản trị dòng tiền.

Sự lệch pha này tạo ra bốn rào cản lớn: định giá tài sản trí tuệ phức tạp, sự chênh lệch về kì vọng giữa sản phẩm lab và sản phẩm thương mại, vướng mắc cơ chế quản lý tài sản công tại các viện/trường, cùng sự thiếu hụt niềm tin và thấu hiểu chuyên môn lẫn nhau.

ThS. Lê Thị Khánh Vân nhấn mạnh, các nhà khoa học Việt Nam sở hữu trí tuệ, sự kiên trì và sức chịu đựng phi thường, từ PGS.TS Nguyễn Thị Trâm với giống lúa cao sản chuyển nhượng 10 tỉ đồng, GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên bào chế vaccine trong chiến tranh, cho đến những nhà khoa học trẻ như TS. Nguyễn Lê Thu Hà hay PGS.TS Nguyễn Minh Tân đang nỗ lực đưa giải pháp sinh học vào thực tiễn.

tan(1).jpg

Tuy nhiên, để hai bên gặp được nhau, mỗi bên cần chủ động điều chỉnh góc nhìn và phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức trung gian đóng vai trò "bà đỡ" kết nối.

Để hệ sinh thái vận hành hiệu quả, Việt Nam cần chuyển từ cơ chế "đẩy công nghệ" thụ động sang cơ chế "kéo nhu cầu", lấy bài toán thực tế của doanh nghiệp làm mệnh lệnh đặt hàng cho nghiên cứu.

Một hệ sinh thái hoàn chỉnh đòi hỏi sự kết nối hữu cơ của 5 thành tố: Tổ chức trung gian giữ vai trò hạt nhân điều phối; Bên cung (Viện - Trường) cung cấp giải pháp khoa học lõi; Bên cầu (Doanh nghiệp) chủ động đặt hàng và đối ứng nguồn lực; Nhà nước hoạch định chính sách, mồi vốn (qua cơ chế vốn đối ứng 50 - 80%) và mở cơ chế Sandbox; cùng Cộng đồng quốc tế hỗ trợ nâng chuẩn kĩ thuật và quản lí tín chỉ carbon.

Lộ trình xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu giai đoạn 2026 - 2030 được định hình qua 3 bước chiến lược:

Giai đoạn 1 (2026 - 2027): Số hóa và đánh giá dữ liệu, do Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá KH&CN chủ trì thống kê, chuẩn hóa danh mục công nghệ TRL 4 - 7, đồng thời khảo sát sâu nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp.

Giai đoạn 2 (2027 - 2028): Thử nghiệm cơ chế Sandbox nhằm tháo gỡ vướng mắc về thanh lý tài sản công, cơ chế vốn đối ứng và quy trình phân chia lợi ích thương mại hóa.

Giai đoạn 3 (2028 - 2030): Thúc đẩy doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off) và mở rộng quốc tế, khuyến khích thành lập startup công nghệ ngay tại viện/trường, kết nối xuất khẩu sản phẩm sinh học ra thị trường toàn cầu.

Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về công nghệ sinh học, chỉ sau Singapore

Trong khi đó, tại phiên thảo luận “Điểm nghẽn và cơ hội thành công trong thương mại hóa công nghệ sinh học - Từ phòng lab đến thị trường” trong khuôn khổ Hội thảo, ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS) cho biết: Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, là một trong những lợi thế quan trọng để phát triển công nghệ sinh học.

"Trong khu vực Đông Nam Á, theo đánh giá của tôi, Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu về lĩnh vực này, chỉ sau Singapore. Một động lực đáng chú ý là những thay đổi trong chính sách, đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi với các quy định liên quan đến quyền lợi của tác giả sáng chế khi sản phẩm được thương mại hóa. Theo ông, cơ chế hưởng từ 20 - 30% giá trị thương mại hóa có thể tạo thêm động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo và đóng góp cho nền khoa học nước nhà", ông Nghĩa cho hay.

nghia-mc(1).jpg
Ông Bùi Duy Nghĩa - Trưởng phòng Thống kê khoa học và công nghệ, Viện Thống kê và Đánh giá khoa học, Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học (NASTIS).

Theo ông, thời gian từ khi có sáng chế đến khi sản phẩm được ứng dụng và tạo ra doanh thu có thể kéo dài. Có những sáng chế phải đến năm thứ 15 trong thời hạn bảo hộ mới bắt đầu được thị trường quan tâm, khi nhu cầu sử dụng hình thành và doanh nghiệp đặt vấn đề thương mại hóa.

Thậm chí, một số sản phẩm chỉ tạo ra nguồn thu cho nhà khoa học trong hai năm cuối của thời hạn bảo hộ. Điều đó cho thấy quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường cần thời gian, sự kiên trì và những cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Thời hạn bảo hộ sáng chế về cơ bản là 20 năm kể từ ngày nộp đơn, hoặc từ ngày ưu tiên trong trường hợp áp dụng quyền ưu tiên. Với những động lực từ chính sách và quyền lợi thương mại hóa, tôi tin rằng các nhà khoa học sẽ có thêm điều kiện và động lực để đóng góp cho công nghệ sinh học nói riêng, khoa học và công nghệ Việt Nam nói chung.

Ông kì vọng trong khoảng 2-3 năm tới, lĩnh vực công nghệ sinh học và công nghiệp sinh học của Việt Nam sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn.

Tuyết Nhung