Cuộc đời nhà khoa học

Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ:Bàn tay ấm và tấm lòng nhân vị

Quốc Phong •

Có những người được nhớ đến bởi học hàm, chức vụ hay những công trình khoa học. Nhưng cũng có những người, càng nhìn lại cuộc đời, càng thấy điều đáng nhớ nhất nằm ở những lựa chọn họ đã thực hiện khi đứng trước những ngã rẽ lớn. Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910-1972) là một người như thế.

đặng vũ hỷ

Trong lịch sử y học và khoa học Việt Nam thế kỷ 20, Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910 – 1972) đứng ở một vị trí đặc biệt. Xuất thân từ gia tộc khoa bảng lẫy lừng ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay là xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình), ông bảo vệ thành công luận án Bác sĩ nội trú chuyên ngành Da liễu tại Paris năm 1937. Khi trở về nước, giữa lòng Hà Nội phồn hoa, ông có trong tay phòng mạch tư sung túc và một vị thế xã hội mà vô số trí thức thời bấy giờ mơ ước.

giáo sư đặng vũ hỷ
Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910-1972)

Thế nhưng, khi kháng chiến bùng nổ, ông đã xếp lại chiếc áo blouse vô trùng nơi đô thành, gạt bỏ mọi sự an nhàn riêng tư để bước vào chiến khu Việt Bắc. Ông trở thành người đặt nền móng cho ngành Da liễu Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội, kiêm Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai.

Hơn cả một nhà lâm sàng tài ba và nhà giáo nghiêm cẩn, tên tuổi của ông gắn liền với cuộc chiến chống lại định kiến xã hội để trả lại nhân phẩm cho những bệnh nhân phong – những con người từng bị xã hội hắt hủi, xua đuổi. Bằng tài năng, y đức và sự tận tụy trọn đời, ông đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Khoa học và Công nghệ (1996).

Tạp chí điện tử Một Thế Giới trân trọng giới thiệu loạt bài khắc họa trọn vẹn chân dung, tư tưởng và di sản đời thường của nhân vật kiệt xuất này.

Ông là một trong chín giáo sư y khoa đầu tiên được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong năm 1955, là một trong những người đặt nền móng cho ngành Da liễu Việt Nam, để lại nhiều công trình nghiên cứu về bệnh phong, bệnh hoa liễu và các bệnh ngoài da. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Kỹ thuật đợt I. Nhưng những danh hiệu ấy chưa nói hết về ông.

Kỳ 1: Từ Paris hoa lệ đến những người bệnh bị xa lánh

Có những người được nhớ đến bởi học hàm, chức vụ hay những công trình khoa học. Nhưng cũng có những người, càng nhìn lại cuộc đời, càng thấy điều đáng nhớ nhất nằm ở những lựa chọn họ đã thực hiện khi đứng trước những ngã rẽ lớn. Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ (1910-1972) là một người như thế.

Có một hình ảnh giản dị hơn nhiều: một vị giáo sư đầu ngành bước đến bên người mắc bệnh phong, trực tiếp nắm lấy bàn tay mà những người khác còn e ngại. Cái bắt tay ấy có lẽ nói nhiều về Đặng Vũ Hỷ hơn bất cứ danh hiệu nào.

Từ Hành Thiện đến Paris

Đặng Vũ Hỷ sinh ngày 17/3/1910 tại làng Hành Thiện, một vùng quê nổi tiếng về truyền thống hiếu học và khoa bảng.

Ông sinh trưởng trong một gia đình có nền nếp văn hóa lâu đời. Ông nội là cử nhân Đặng Vũ Trợ, từng làm Tri phủ Nho Quan, được nhắc đến bởi lối sống thanh liêm và lòng thương người. Thân mẫu là nữ sĩ Mộng Lan, tác giả nhiều bài thơ, bài vịnh từng được đăng trên Nam Phong tạp chí.

Từ nhỏ, Đặng Vũ Hỷ đã được sống trong một môi trường coi trọng học hành.

làng hành thiện
Chùa Keo làng Hành Thiện - quê hương Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ. Ảnh tư liệu

Sau bậc tiểu học ở quê, ông lên Hà Nội học Trường Albert Sarraut và năm 1929 đỗ Tú tài toàn phần thuộc ban Triết học.

Ông tiếp tục theo học Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Sau bốn năm, Đặng Vũ Hỷ sang Pháp học tiếp năm thứ năm tại Đại học Y khoa Paris. Từ niên khóa 1934–1935, ông được nhận học bổng do ngân sách Bắc Kỳ đài thọ.

Năm 1937, ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại Pháp với luận văn La syphilis de l’ovaire – nghiên cứu về bệnh giang mai buồng trứng. Sau đó, ông làm việc tại Bệnh viện Saint-Lazare ở Paris, một cơ sở chuyên về các bệnh da liễu và hoa liễu.

Với một thanh niên Việt Nam vào những năm 1930, đó là một cơ hội rất lớn. Paris khi ấy là một trong những trung tâm y học hàng đầu châu Âu. Một bác sĩ trẻ được đào tạo bài bản, có bằng cấp và môi trường làm việc tốt hoàn toàn có thể lựa chọn một cuộc sống nghề nghiệp thuận lợi.

Nhưng Paris với Đặng Vũ Hỷ không chỉ là nơi học y.

Trong thời gian ở Pháp, ông tham gia Ủy ban đòi ân xá cho các chính trị phạm Đông Dương và những hoạt động bảo vệ người dân thuộc địa. Điều đó khiến ông bị mật vụ Pháp theo dõi.

Đây là một chi tiết đáng chú ý, bởi nó cho thấy ngay khi đang đứng trước những cơ hội nghề nghiệp lớn ở châu Âu, người bác sĩ trẻ vẫn không tách mình khỏi những vấn đề của quê hương.

Một lựa chọn không dễ dàng

Năm 1937, Đặng Vũ Hỷ trở về nước. Ông có một tấm bằng bác sĩ đào tạo ở Paris, từng làm việc tại Saint-Lazare, có gia thế và những mối quan hệ xã hội thuận lợi. Ông lại là con rể của quan Thượng thư Phạm Quỳnh.

gia-dinh-sinh-nhat-2-cu_2.jpg.webp

Nếu muốn, ông hoàn toàn có thể xây dựng cho mình một cuộc sống sung túc. Trở về Việt Nam, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ được Sở Than mỏ Đông Triều mời làm Giám đốc bệnh viện.

Nhưng chỉ sau một thời gian, ông quyết định rời bỏ vị trí ấy.

Không chấp nhận cách chủ mỏ đối xử hà khắc với công nhân, tháng 8/1938, ông từ chức, trở về Hà Nội mở phòng khám chuyên điều trị các bệnh da liễu.

Nhìn riêng lẻ, đó có thể chỉ là một thay đổi nghề nghiệp. Nhưng nhìn suốt cuộc đời ông, quyết định ấy cho thấy một quan niệm khá nhất quán: người thầy thuốc không thể chỉ nhìn thấy căn bệnh mà quên mất con người đang mang căn bệnh ấy.

Quan niệm ấy về sau trở thành một dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp của bác sĩ Đặng Vũ Hỷ.

Người bác sĩ đi vào kháng chiến

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra một bước ngoặt mới.

Một trí thức được đào tạo ở Pháp, có vị trí xã hội ổn định, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ có thể lựa chọn một cuộc sống riêng tương đối an toàn.

Nhưng ông chọn một con đường khác. Nhận lời mời của Giáo sư Hồ Đắc Di, ông tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội, góp sức xây dựng nền y học của chính quyền cách mạng non trẻ.

Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ. Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ gia nhập quân đội và được giao phụ trách Viện Quân y của Trung đoàn 34, hoạt động trên địa bàn Hà Nam – Nam Định – Ninh Bình.

Từ năm 1948 đến 1950, ông là Trưởng Ty Y tế tỉnh Ninh Bình.

Sau đó, ông tham gia giảng dạy tại Trường Y sĩ Liên khu III-IV ở Thanh Hóa rồi Trường Đại học Y khoa tại chiến khu Việt Bắc.

Chiến tranh khiến người bác sĩ chuyên ngành Da liễu phải bước ra khỏi phạm vi chuyên môn quen thuộc. Ông tự học thêm nội khoa, ngoại khoa để đáp ứng yêu cầu đào tạo và chữa bệnh trong điều kiện thiếu thốn. Ở chiến khu, ông vừa là bác sĩ, vừa là thầy giáo.

Những năm tháng ấy tạo nên một Đặng Vũ Hỷ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có khả năng thích ứng với những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Một trong chín giáo sư ngành y đầu tiên

Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ trở về Hà Nội. Ông được giao làm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu tại Đại học Y Dược Hà Nội và Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai.

Ngày 26/1/1955, Bộ trưởng Bộ Y tế Hoàng Tích Trí ký quyết định phong chức danh Giáo sư cho chín thầy thuốc đầu tiên của nền y học Việt Nam mới. Đặng Vũ Hỷ là một trong số đó. Đó không chỉ là sự ghi nhận đối với một cá nhân.

Những giáo sư y khoa đầu tiên khi ấy đứng trước một nhiệm vụ rất lớn: đào tạo đội ngũ bác sĩ cho một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, xây dựng các chuyên ngành còn non trẻ và phát triển nghiên cứu khoa học trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Ông dành gần hai thập niên còn lại của cuộc đời cho công việc ấy.

Từ năm 1954 đến 1972, ông công bố 48 công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước, đồng thời biên soạn nhiều sách chuyên môn về bệnh phong, bệnh hoa liễu và các bệnh ngoài da.

Sau này, các công trình của ông được đánh giá cao không chỉ ở giá trị khoa học mà còn ở tính thực tiễn.

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ rất quan tâm đến những phương pháp điều trị có hiệu quả nhưng chi phí thấp, phù hợp với điều kiện của người dân lúc bấy giờ.

Ở ông, nghiên cứu khoa học không tách khỏi người bệnh. Khoa học phải đi đến được giường bệnh. Và cuối cùng, giá trị của một phương pháp điều trị phải được đo bằng việc nó giúp người bệnh như thế nào.

Cái bắt tay với người mắc bệnh phong

Nếu phải chọn một chi tiết để nói về nhân cách Giáo sư Đặng Vũ Hỷ, có lẽ đó là câu chuyện về một cái bắt tay.

Bệnh phong từng là một căn bệnh khiến người mắc phải chịu đựng hai nỗi đau: đau đớn về thể xác và sự xa lánh về tinh thần.

Trong nhiều thế kỷ, người mắc bệnh phong thường bị cộng đồng sợ hãi, kỳ thị, thậm chí bị tách khỏi xã hội.

tượng đài giáo sư Hỷ
Con gái GS. Hỷ, bà Đặng Thị Kim Chi, PGS, TS, nhà khoa học đầu ngành về môi trường bên tượng người cha mình đặt tại khuôn viên của Viện Phong Quy Hoà, Quy Nhơn.

Là một bác sĩ chuyên khoa, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ không chỉ nghiên cứu căn bệnh. Ông đến với người bệnh. Ông trò chuyện, động viên, an ủi và tìm cách giúp họ vượt qua mặc cảm.

Trong gia đình vẫn lưu truyền một câu chuyện.

Có lần Đặng Vũ Hỷ đến thăm một trại phong. Một bệnh nhân vui mừng mang mít ra biếu ông. Người đi cùng định lấy một tờ báo trải ra để ông không phải trực tiếp chạm vào tay người bệnh. Ông gạt tờ báo sang một bên, đưa tay ra và bắt tay người bệnh.

Một cái bắt tay với người bình thường không có gì đặc biệt.

Nhưng đối với một người đã quen với ánh mắt e ngại và sự tránh né của xã hội, đó có thể là một lời khẳng định mạnh mẽ:

Anh vẫn là một con người !

Anh vẫn xứng đáng được tôn trọng !

Có lẽ chính từ những điều nhỏ bé mà ông từng động viên họ như vậy mà nhiều đồng nghiệp, học trò và người bệnh từng gọi Đặng Vũ Hỷ là một “ông Phật” có trái tim nhân hậu.

Đó không phải một danh hiệu được trao bằng quyết định hành chính. Nó được hình thành từ ký ức và tình cảm của những con người từng gặp ông.

Di sản của người thầy thuốc

Giáo sư Đặng Vũ Hỷ qua đời ngày 4/10/1972, khi mới 62 tuổi khi đang được nhà nước đưa sang Trung Quốc điều trị bệnh Parkinson ( run tay ).

Nhưng những gì ông gây dựng không dừng lại ở đó. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Kỹ thuật đợt I cho những công trình nghiên cứu có giá trị về da liễu và bệnh phong.

Tên ông được đặt cho nhiều đường phố. Trong ngành Da liễu, Giải thưởng Đặng Vũ Hỷ được trao cho những bác sĩ có thành tích nổi bật trong nghiên cứu và điều trị.

Tại khuôn viên Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương Quy Hòa, tượng ông được đặt trong Vườn tượng danh nhân y học, ghi nhận một cuộc đời tận tụy với người bệnh và một y đức trong sáng.

Di sản ấy còn được tiếp nối trong gia đình.

Con trai ông, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Viện Hàn lâm Liên bang Nga Đặng Vũ Minh, là một nhà khoa học lớn, có uy tín với giới khoa học trong nước và quốc tế . Ông có nhiều đóng góp cho đất nước. Con gái út, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Đặng Thị Kim Chi, cũng là một nhà khoa học có nhiều đóng góp trong lĩnh vực môi trường.

Ở một nghĩa nào đó, truyền thống mà ông để lại vẫn được tiếp tục: học tập, nghiên cứu và đem tri thức phục vụ xã hội.

Từ Paris hoa lệ đến những người bị xa lánh

Nhìn lại cuộc đời Đặng Vũ Hỷ, điều đáng chú ý không chỉ là ông đã đạt tới đâu trên con đường học thuật. Điều đáng nói hơn là ông đã lựa chọn như thế nào. Từ Hành Thiện đến Hà Nội- Từ Hà Nội sang Paris -Từ Paris trở về Việt Nam.

Từ một vị trí nghề nghiệp đầy hứa hẹn tại bệnh viện của Sở Than đến việc từ chức vì không chấp nhận cách đối xử với người thợ mỏ bản địa .

Từ cuộc sống riêng ổn định đến những năm tháng kháng chiến.

Và cuối cùng, từ vị trí của một giáo sư đầu ngành đến bên những người bệnh phong mà xã hội từng tìm cách tránh xa.

Đó là một hành trình rất đặc biệt.

Đặng Vũ Hỷ không đi từ tay trắng đến danh vọng. Ông từng có trong tay rất nhiều điều kiện thuận lợi: học vấn, nghề nghiệp, vị trí xã hội. Nhưng ông nhiều lần lựa chọn con đường khó hơn.

Ông lựa chọn đất nước. Ông lựa chọn khoa học chấp nhận một cuộc sống vô cùng giản dị. Và trên hết, ông lựa chọn con người.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày ông qua đời, người ta có thể quên một vài chức vụ, một vài con số trong danh mục công trình. Nhưng hình ảnh một vị giáo sư bước tới và nắm lấy bàn tay người bệnh phong thì rất khó quên.

Từ Paris hoa lệ đến những người bệnh bị xa lánh – đó không chỉ là hành trình của một bác sĩ. Đó là hành trình của một nhân cách. Và có lẽ, sau cùng, điều lớn nhất một người trí thức có thể để lại không chỉ là công trình khoa học hay danh hiệu. Mà còn là một cách sống để người đời sau có thể nhìn vào.

Còn tiếp

Quốc Phong