Kinh tế

Mong ngân hàng giảm lãi suất thật, đừng chỉ giảm trên tivi

Đình Long • 21/10/2026 13:25

Nếu các ngân hàng công bố giảm lãi suất nhưng không nói rõ có bao nhiêu khách hàng thực sự được hưởng, tổng dư nợ được giảm lãi suất… là bao nhiêu và mức giảm bình quân thực tế thế nào, người dân rất khó đánh giá hiệu quả của chính sách.

Tôi hỏi một doanh nghiệp sản xuất lúa gạo ở miền Tây: “Doanh nghiệp của anh đã được ngân hàng giảm lãi suất chưa?”. Anh cười bí hiểm rồi trả lời: “Họ mới tuyên bố trên báo và tivi thôi!”.

Tôi hỏi tiếp, doanh nghiệp của anh hoạt động trong lĩnh vực ưu tiên, đáng lẽ phải được hưởng chính sách giảm lãi suất chứ? Anh chỉ lắc đầu, cười buồn.

“

Điều mà người vay cần lúc này không phải thêm những lời hứa, mà là một sự thay đổi có thể nhìn thấy trong khoản tiền lãi phải trả hằng tháng.

Câu trả lời nửa đùa nửa thật ấy khiến tôi suy nghĩ. Bởi nếu một chủ doanh nghiệp đang trực tiếp vay vốn ngân hàng mà vẫn chưa cảm nhận được việc giảm lãi suất, thì những thông điệp được phát đi dồn dập trên các phương tiện truyền thông liệu đã thực sự đến được với nền kinh tế hay chưa?

Dĩ nhiên, câu chuyện của một doanh nghiệp chưa đủ để kết luận các ngân hàng chưa thực hiện cam kết. Nhưng đó là một lát cắt đáng suy ngẫm, nhất là trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước liên tục yêu cầu giảm chi phí vốn, còn doanh nghiệp vẫn than khó tiếp cận tín dụng.

Điều mà người vay cần lúc này không phải thêm những lời hứa, mà là một sự thay đổi có thể nhìn thấy trong khoản tiền lãi phải trả hằng tháng.

Từ lời tuyên bố đến khoản tiền lãi thực trả

Sau nhiều chỉ đạo của Chính phủ, ngày 18/10, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn số 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp giảm mặt bằng lãi suất.

Ngày 19/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn tiếp tục làm việc với lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại, yêu cầu giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Ngay sau đó,hàng loạt ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Có nhà băng thông báo giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, thậm chí 2,25%/năm đối với một số khoản vay đáp ứng điều kiện cụ thể. Những động thái này cho thấy chỉ đạo của cơ quan quản lý đã được chuyển thành các chương trình hành động cụ thể.

Tuy nhiên, giữa một chương trình được công bố và khả năng tiếp cận thực tế của người vay vẫn có một khoảng cách cần được làm rõ.

Giảm lãi suất tối đa 2%/năm không có nghĩa mọi khách hàng đều được giảm 2%. Mức ưu đãi có thể phụ thuộc vào ngành nghề, mục đích vay, thời hạn vay, thời gian cố định lãi suất và những điều kiện riêng của từng chương trình. Có gói chỉ áp dụng cho khoản vay mới, có gói dành cho khách hàng đáp ứng các tiêu chí nhất định.

Vì vậy, nếu ngân hàng công bố mức giảm cao nhất nhưng không nói rõ có bao nhiêu khách hàng thực sự được hưởng, tổng dư nợ được giảm lãi suất là bao nhiêu và mức giảm bình quân thực tế thế nào, người dân rất khó đánh giá hiệu quả của chính sách.

“

Có nhà băng thông báo giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, thậm chí 2,25%/năm đối với một số khoản vay đáp ứng điều kiện cụ thể.

Đây cũng là điều đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, đoàn Hải Phòng, đặt ra tại phiên thảo luận của Quốc hội ngày 18/10. Đại biểu đề nghị làm rõ thông tin hệ thống tổ chức tín dụng đã thống nhất giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm, trong khi báo cáo số 918 cho biết lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch mới ở mức 9,12%/năm, tăng 1,03 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Đại biểu đặt câu hỏi mức giảm 1,5 - 2% áp dụng cho những đối tượng nào, với quy mô dư nợ bao nhiêu, trong bối cảnh cử tri và doanh nghiệp vẫn phản ánh lãi suất cao, khó tiếp cận vốn.

Câu hỏi ấy chạm đúng điều mà thị trường cần biết. Bởi một chính sách tín dụng không thể chỉ được đánh giá bằng số ngân hàng tham gia, số gói vay được công bố hay mức ưu đãi cao nhất trên quảng cáo. Thước đo quan trọng hơn phải là số tiền lãi mà người vay thực sự tiết kiệm được và khả năng tiếp cận vốn có được cải thiện hay không.

bank.jpg
Hàng loạt ngân hàng công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu

Doanh nghiệp cần vốn rẻ để sống, không chỉ để tăng trưởng

Đối với doanh nghiệp, lãi suất không phải một con số nằm trên biểu niêm yết của ngân hàng. Đó là một khoản chi phí phải trả bằng tiền thật, lấy trực tiếp từ dòng tiền kinh doanh.

Ví dụ: Một doanh nghiệp vay 10 tỉ đồng, nếu được giảm 1 điểm phần trăm lãi suất mỗi năm, về lý thuyết sẽ tiết kiệm khoảng 100 triệu đồng tiền lãi trong một năm, với điều kiện dư nợ không đổi và mức giảm được áp dụng đủ 12 tháng. Nếu mức giảm là 2 điểm phần trăm, số tiền tiết kiệm tương ứng khoảng 200 triệu đồng.

Với doanh nghiệp có biên lợi nhuận mỏng, những khoản tiền ấy có thể đủ để duy trì việc làm cho người lao động, mua thêm nguyên liệu, trang trải chi phí vận chuyển hoặc đầu tư cải tiến máy móc. Ngược lại, khi lãi vay cao, một phần đáng kể lợi nhuận làm ra phải dành để trả lãi, khiến doanh nghiệp khó tích lũy và càng khó mở rộng sản xuất.

“

Người vày tiền cần biết mình có đủ điều kiện vay hay không, lãi suất thực tế là bao nhiêu, được giảm trong thời gian nào, cần bổ sung những thủ tục gì và khi nào khoản vay được giải ngân.

Đặc biệt, với những doanh nghiệp nông nghiệp, chế biến lúa gạo và xuất khẩu ở miền Tây, nhu cầu vốn thường gắn với mùa vụ, thu mua nguyên liệu, tồn trữ, chế biến và thời gian chờ thanh toán từ đối tác. Chậm một nhịp vốn có thể làm lỡ cơ hội kinh doanh; chi phí vay cao kéo dài có thể bào mòn lợi nhuận vốn đã chịu tác động của giá nguyên liệu, chi phí logistics và biến động thị trường.

Bởi vậy, điều doanh nghiệp mong đợi không phải một chương trình tín dụng nghe rất hấp dẫn nhưng đi kèm quá nhiều điều kiện khó đáp ứng. Họ cần biết mình có đủ điều kiện vay hay không, lãi suất thực tế là bao nhiêu, được giảm trong thời gian nào, cần bổ sung những thủ tục gì và khi nào khoản vay được giải ngân.

Tại nghị trường, đại biểu Lê Thị Thanh Lam, đoàn Cần Thơ, cũng nhấn mạnh vấn đề này. Bà cho rằng điều quan trọng nhất là doanh nghiệp có thực sự tiếp cận được nguồn vốn với mức lãi suất giảm hay không, hay chính sách chỉ dừng lại ở các gói ưu đãi khó tiếp cận.

Bà đề nghị kiểm tra việc thực hiện giảm lãi suất tại các ngân hàng thương mại, công khai mức lãi suất cho vay thực tế và đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ sản xuất, kinh doanh.

Đây là yêu cầu rất xác đáng. Bởi chính sách giảm lãi suất chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đến được với những người cần vốn và có khả năng sử dụng vốn hiệu quả. Nếu doanh nghiệp đáp ứng phương án kinh doanh khả thi nhưng vẫn không tiếp cận được khoản vay phù hợp, thì mức lãi suất ưu đãi được quảng bá rộng rãi cũng khó trở thành động lực cho tăng trưởng.

Ngân hàng cần chia sẻ lợi nhuận, nhưng phải minh bạch

Cần nhìn nhận công bằng rằng giảm lãi suất không phải bài toán đơn giản. Ngân hàng cũng phải huy động vốn, trả lãi tiền gửi, trang trải chi phí hoạt động, dự phòng rủi ro và bảo đảm an toàn thanh khoản. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, áp lực cân đối nguồn vốn càng lớn. Không thể yêu cầu giảm lãi suất bằng mọi giá, bất chấp rủi ro đối với hệ thống tài chính.

Tuy nhiên, khó khăn của ngân hàng không thể là lý do để việc giảm lãi suất chỉ dừng ở những thông báo đẹp đẽ.

Ngày 19/10, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và triển khai đồng bộ các giải pháp để giảm mặt bằng lãi suất. Đây là một thông điệp đáng chú ý: trong lúc nền kinh tế cần nguồn vốn với chi phí hợp lý, ngành ngân hàng cũng phải có trách nhiệm chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp.

Chia sẻ ở đây không có nghĩa ngân hàng phải hy sinh an toàn hoạt động hay cho vay bằng mọi giá. Điều cần thiết là rà soát những khoản chi chưa hiệu quả, nâng cao năng suất, cải tiến quy trình, giảm chi phí vận hành và sử dụng nguồn vốn hợp lý hơn. Khi có dư địa từ việc tiết giảm chi phí, ngân hàng cần chuyển một phần lợi ích ấy thành mức lãi vay thấp hơn cho khách hàng.

Đáng chú ý, theo thông tin được công bố, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV Lê Ngọc Lâm cho biết ngân hàng dự kiến giảm thu nhập khoảng 500 tỉ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân thông qua chương trình cho vay ưu đãi. Đây là ví dụ cụ thể về việc ngân hàng chấp nhận giảm một phần thu nhập để chia sẻ chi phí vốn với nền kinh tế.

Dẫu vậy, một cam kết riêng lẻ chưa thể thay thế việc giám sát toàn hệ thống. Muốn biết sự chia sẻ ấy có diễn ra thực chất hay không, cần có những tiêu chí đo lường rõ ràng và thống nhất.

Cùng với đó, cơ quan quản lý cũng cần có kênh tiếp nhận phản ánh, kiểm tra những trường hợp công bố ưu đãi nhưng thực hiện không đúng cam kết, hoặc đưa ra điều kiện khiến khách hàng đủ tiêu chuẩn trên danh nghĩa nhưng khó tiếp cận trong thực tế.

Chính Ngân hàng Nhà nước đã phát đi thông điệp về biện pháp xử lý đối với tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo về lãi suất, trong đó có khả năng xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Điều quan trọng là cơ chế ấy phải được thực thi nhất quán, dựa trên kết quả kiểm tra và bằng chứng cụ thể.

phu-nong-xanh-2.jpg
Khi ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ yếu của nhiều doanh nghiệp, người dân thì việc thực hiện nghiêm túc cam kết giảm lãi suất càng trở nên cấp thiết. Ảnh minh hoạ

Đừng để người vay chỉ biết lãi suất giảm qua tivi

Khi Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao, doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn vậy, chính sách tiền tệ phải hỗ trợ dòng vốn đi vào nền kinh tế với chi phí hợp lý, đồng thời bảo đảm an toàn hệ thống và kiểm soát lạm phát.

“

Ngân hàng Nhà nước đã phát đi thông điệp về biện pháp xử lý đối với tổ chức tín dụng không tuân thủ chỉ đạo về lãi suất, trong đó có khả năng xem xét điều chỉnh giảm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Tuy nhiên, không nên xem việc giảm lãi suất chỉ là trách nhiệm của riêng ngân hàng. Đây còn là bài toán phối hợp chính sách, phát triển các kênh dẫn vốn khác và cải thiện môi trường kinh doanh để doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Nhưng trước mắt, khi ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ yếu của nhiều doanh nghiệp, việc thực hiện nghiêm túc cam kết giảm lãi suất càng trở nên cấp thiết.

Ngân hàng giảm lãi suất bao nhiêu, bao nhiêu doanh nghiệp được hưởng, người vay tiết kiệm được bao nhiêu tiền và việc tiếp cận vốn có thuận lợi hơn không?... Những câu hỏi ấy cần có câu trả lời bằng số liệu minh bạch.

Mong rằng trong những ngày tới, khi hỏi lại người chủ doanh nghiệp lúa gạo ở miền Tây câu hỏi ấy, tôi sẽ nhận được một câu trả lời khác: “Ngân hàng giảm lãi suất thật rồi!”. Khi đó, việc giảm lãi suất mới không chỉ là thông điệp trên tivi, mà đã trở thành sự hỗ trợ thiết thực cho nền kinh tế.

Đình Long