Kinh tế

Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số- Kỳ 3: Giải bài toán lãi suất không thể chỉ nhìn vào một phía

Thùy Linh • 21/10/2026 08:55

Giới phân tích kinh tế nhấn mạnh rằng việc giảm lãi suất cần đặt trong mối quan hệ giữa ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Doanh nghiệp mong lãi suất giảm để giảm chi phí vốn, nhưng điều hành tiền tệ còn phải tính đến lạm phát, tỷ giá và an toàn hệ thống ngân hàng. Hạ lãi suất quá nhanh có thể tạo thêm sức ép lên đồng tiền và thị trường ngoại hối; giữ lãi suất cao kéo dài lại làm suy yếu sức chịu đựng của doanh nghiệp.

Bài toán đặt ra là tìm được cách điều hành linh hoạt, tạo dư địa giảm chi phí vốn mà không làm mất ổn định kinh tế vĩ mô.

Lãi suất đứng giữa nhiều sức ép

Khi chi phí vay tăng, mong muốn phổ biến của doanh nghiệp và người dân là lãi suất cần sớm hạ xuống. Với doanh nghiệp, lãi vay thấp hơn giúp giảm chi phí tài chính, cải thiện lợi nhuận và tạo thêm nguồn lực cho sản xuất. Với người mua nhà, khoản trả nợ hàng tháng nhẹ hơn cũng đồng nghĩa khả năng cân đối thu nhập tốt hơn.

Nhưng lãi suất không vận động độc lập. Việc điều hành còn chịu tác động của lạm phát, tỷ giá, dòng vốn quốc tế, thanh khoản ngân hàng và chất lượng tín dụng. Bởi vậy, giảm lãi suất là yêu cầu cấp thiết, song giảm bằng cách nào, vào thời điểm nào và với mức độ ra sao mới là bài toán khó.

PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, cho rằng trên thực tế dư địa giảm lãi suất trong thời gian tới không còn nhiều khi áp lực lạm phát và những biến động từ chính sách tiền tệ quốc tế tiếp tục đặt ra thách thức. Tại cuộc họp đầu tháng 10/2026, Ngân hàng Nhà nước cho biết vẫn giữ nguyên lãi suất điều hành, đồng thời triển khai các biện pháp ổn định mặt bằng lãi suất thị trường.

Theo số liệu Cục Thống kê từ cơ quan chức năng, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2026 tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 9 tháng tăng 4,52%, nhỉnh hơn mục tiêu 4,5% mà Quốc hội đặt ra. Khi áp lực giá cả còn hiện hữu, cơ quan điều hành phải cân nhắc kỹ giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và mục tiêu giữ ổn định giá trị đồng tiền.

Ông Long cho rằng vấn đề quan trọng là hạn chế những yếu tố có thể gây áp lực lên mặt bằng lãi suất trong nước, qua đó tạo điều kiện giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và người mua nhà.

Nhận định này gợi mở một điểm cần phân biệt: không nhất thiết cứ muốn giảm lãi suất cho vay là phải hạ ngay các mức lãi suất điều hành. Chi phí vốn mà doanh nghiệp thực trả còn phụ thuộc vào lãi suất huy động, khả năng cân đối nguồn vốn của ngân hàng, mức độ rủi ro của khách hàng và hiệu quả của phương án vay.

“Nếu các yếu tố này chưa được cải thiện, việc điều chỉnh một mức lãi suất chính sách chưa chắc chuyển thành mức giảm tương ứng ở khoản vay thực tế”, vị chuyên gia nhận định.

“

“Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, vừa kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng

SeABank PGD (16)
Nếu lãi suất tiền gửi quá thấp, việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi có thể gặp khó khăn. Ảnh: MP

Tỷ giá, lạm phát và tăng trưởng: Ba mục tiêu phải cân đối

Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, diễn biến của đồng USD và chính sách tiền tệ quốc tế có thể tạo ra sức ép đáng kể đối với việc điều hành trong nước.

Đây là bài toán đánh đổi mà cơ quan điều hành phải tính toán trong từng thời điểm. Không thể chỉ nhìn vào nhu cầu giảm lãi suất của người vay mà bỏ qua rủi ro tỷ giá; cũng không thể chỉ tập trung phòng thủ tỷ giá mà không tính đến sức chịu đựng của khu vực sản xuất, kinh doanh.

Ở góc độ chuyên gia tài chính - ngân hàng, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm căng thẳng, buộc các ngân hàng tăng lãi suất huy động để có nguồn vốn cho vay.

Ông nhận định việc lãi suất liên ngân hàng giảm sau động thái can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở chưa đủ để khẳng định xu hướng giảm đã bền vững. Ngoài cung - cầu vốn, áp lực tỷ giá và lạm phát cũng hạn chế dư địa giảm lãi suất.

Việt Nam có độ mở kinh tế lớn, phụ thuộc đáng kể vào thương mại quốc tế và nguồn vốn bên ngoài. Khi lãi suất USD duy trì ở mức cao, việc giảm mạnh lãi suất VND có thể làm thay đổi sức hấp dẫn tương đối của đồng nội tệ, gây thêm sức ép lên tỷ giá. Đồng USD mạnh lên cũng có thể làm tăng chi phí nhập khẩu xăng dầu, máy móc và nguyên vật liệu, từ đó tạo áp lực lên giá thành sản xuất.

“

Khi chi phí vay tăng, mong muốn phổ biến của doanh nghiệp và người dân là lãi suất cần sớm hạ xuống.

TS. Cấn Văn Lực cũng cho rằng nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao nên nhu cầu vốn tiếp tục tăng. Trong khi đó, các kênh đầu tư như bất động sản, vàng và tài sản số cũng cạnh tranh dòng tiền với hệ thống ngân hàng. Nếu lãi suất tiền gửi quá thấp, việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi có thể gặp khó khăn.

Tuy vậy, những sức ép trên không có nghĩa mọi khoản vay đều phải tăng lãi suất hoặc không còn khả năng giảm. Lãi suất có thể phân hóa theo mục đích sử dụng vốn, chất lượng khách hàng, kỳ hạn và mức độ rủi ro.

Các ngân hàng vẫn có thể triển khai những gói tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Vấn đề là cần phân biệt giữa khả năng giảm lãi suất có trọng tâm và việc hạ đồng loạt trên toàn hệ thống. Hai mục tiêu này đòi hỏi những điều kiện và cách thức điều hành khác nhau.

Giới phân tích kinh tế nhấn mạnh rằng việc giảm lãi suất cần đặt trong mối quan hệ giữa ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng. Ba mục tiêu này không phải lúc nào cũng có thể đồng thời đạt mức tối ưu bằng một biện pháp duy nhất. Vì vậy, điều hành cần linh hoạt theo diễn biến thực tế, thay vì theo đuổi một mục tiêu bằng mọi giá.

Với doanh nghiệp, điều quan trọng là chính sách không tạo ra những biến động quá đột ngột khiến việc lập kế hoạch tài chính trở nên khó khăn. Với người gửi tiền, lãi suất phải bảo đảm mức sinh lời phù hợp trong bối cảnh lạm phát.

Với ngân hàng, chi phí huy động vốn và rủi ro tín dụng phải nằm trong khả năng kiểm soát. Một mặt bằng lãi suất hợp lý cần cân đối được những lợi ích này, thay vì chỉ ưu tiên một nhóm chủ thể.

Điều hành linh hoạt, không để thanh khoản trở thành nút thắt

Trong điều hành tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết có nhiều công cụ để tác động đến thanh khoản và mặt bằng lãi suất. Một trong số đó là nghiệp vụ thị trường mở (OMO), thông qua các hoạt động mua, bán giấy tờ có giá hoặc giao dịch có kỳ hạn nhằm điều tiết lượng tiền trong hệ thống ngân hàng...

Chuyên gia tài chính cá nhân Lâm Minh Chánh, Chủ tịch Học viện BizUni, Nhà sáng lập AI tài chính WikiMoney cho rằng, ngoài tiền gửi của khách hàng, ngân hàng còn lấy vốn từ nhiều kênh khác nhau nhưng mỗi kênh có tính chất và giới hạn riêng.

Ông cũng cho rằng chính sách tiền tệ không chỉ có nhiệm vụ cung ứng vốn và giảm lãi suất. Nếu cung ứng tiền quá mạnh trong khi năng lực sản xuất, hàng hóa, dịch vụ không tăng tương ứng, áp lực lạm phát có thể tăng; ngoài ra còn phải tính đến tỷ giá, dòng vốn và sự ổn định hệ thống tài chính.

Chúng ta có con số cụ thể để nhìn vấn đề. Theo Cục Thống kê, CPI bình quân chín tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản tăng 4,26%; tức là áp lực giá cả không hề nhỏ. Về phía quốc tế, ngày 16/9/2026, Fed nâng vùng lãi suất tham chiếu lên 3,75–4%/năm, khiến chênh lệch lãi suất và nguy cơ tác động đến tỷ giá trở thành yếu tố phải cân nhắc khi Việt Nam muốn giảm lãi suất đồng tiền trong nước.

Cũng cần phân biệt số liệu: theo Cục Thống kê, chỉ số giá đô la Mỹ trong thống kê giá tiêu dùng tháng 9/2026 giảm 1,07% so với tháng 12/2025; đây là chỉ số giá USD do cơ quan thống kê công bố, không phải một mức tỷ giá niêm yết chính thức tại một ngân hàng.

Như vậy không thể nói tỷ giá đã tăng liên tục từ đầu năm, nhưng rủi ro tỷ giá khi hạ lãi suất VND quá mạnh vẫn là điều nhà điều hành phải tính tới.

"Ngân hàng Nhà nước phải cân đối cả việc hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá và an toàn ngân hàng. Nới lỏng quá ít thì doanh nghiệp thiếu vốn; nới lỏng quá mức lại có thể đẩy tiền sang đầu cơ tài sản hoặc gây thêm áp lực về giá, cho nên cung ứng thanh khoản cần đúng liều lượng và đúng thời điểm", ông Phân tich .

Mặt khác, để chi phí vốn thực sự giảm, còn cần tính đến chi phí huy động vốn, mức độ rủi ro của người vay, điều kiện tín dụng và khả năng tạo lợi nhuận từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

NHNN cũng cho hay đang phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, vừa kiểm soát lạm phát, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Tín dụng phải đến đúng nơi, đúng nhu cầu

Bên cạnh lãi suất, cách phân bổ tín dụng cũng quyết định hiệu quả của chính sách tiền tệ. Nếu dòng vốn tăng nhanh nhưng tập trung vào các lĩnh vực rủi ro hoặc những dự án tạo ra ít giá trị gia tăng, tăng trưởng tín dụng chưa chắc chuyển thành tăng trưởng kinh tế tương xứng.

Ngược lại, doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi, đơn hàng và dòng tiền rõ ràng nhưng thiếu tài sản bảo đảm hoặc hồ sơ tài chính chưa đáp ứng yêu cầu có thể gặp khó khăn khi vay vốn. Trong trường hợp này, vấn đề không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở cách ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ và thiết kế sản phẩm tín dụng.

doanh-nghiep-vay-von-2.jpg
Chính sách giảm lãi suất cũng cần được theo dõi bằng kết quả thực tế. Ảnh: TL

Những ngân hàng có nền tảng tài chính tốt, kiểm soát rủi ro hiệu quả và thực hiện nghiêm chỉ đạo về lãi suất cần được tạo điều kiện hoạt động phù hợp. Tuy nhiên, việc mở rộng dư nợ không thể trở thành mục tiêu tự thân khiến ngân hàng hạ chuẩn thẩm định.

Các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho nông nghiệp, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghệ cao hoặc nhà ở xã hội có thể giúp giảm chi phí vay cho nhóm thụ hưởng. Nhưng hiệu quả không chỉ được đo bằng tổng quy mô gói tín dụng công bố. Cần xem xét số vốn thực sự được giải ngân, số doanh nghiệp tiếp cận được, điều kiện áp dụng và khả năng duy trì hoạt động sau khi kết thúc thời gian ưu đãi.

Với những doanh nghiệp đang gặp khó khăn tạm thời nhưng có phương án phục hồi khả thi, cơ cấu lại thời hạn trả nợ có thể tạo thêm thời gian để khôi phục dòng tiền. Tuy nhiên, cơ cấu nợ cần có điều kiện và đánh giá thực chất, tránh kéo dài những khoản vay không còn khả năng trả nợ hoặc che khuất rủi ro của hệ thống.

Minh bạch để người vay dự liệu được chi phí

Một yêu cầu khác là minh bạch hóa thông tin lãi suất. Người vay cần biết mức lãi suất áp dụng, thời gian ưu đãi, công thức điều chỉnh sau ưu đãi, biên độ cộng thêm và những chi phí liên quan. Nếu chỉ nhìn vào mức lãi suất ban đầu mà không hiểu cách tính lãi trong những năm tiếp theo, người vay có thể đánh giá thấp nghĩa vụ tài chính thực tế.

Ở cấp độ thị trường, việc công khai thông tin về lãi suất cho vay bình quân và điều kiện áp dụng có thể giúp người vay so sánh giữa các ngân hàng. Tuy nhiên, thông tin phải được trình bày trên cơ sở thống nhất, tránh so sánh những khoản vay khác nhau về kỳ hạn, đối tượng khách hàng, tài sản bảo đảm hoặc mức độ rủi ro.

Chính sách giảm lãi suất cũng cần được theo dõi bằng kết quả thực tế. Nếu ngân hàng công bố giảm nhưng người vay hiện hữu không được hưởng, hoặc mức giảm bị bù trừ bởi các khoản chi phí khác, hiệu quả hỗ trợ sẽ không như kỳ vọng. Đây là lý do việc giám sát cần nhìn vào cả quá trình từ huy động vốn, định giá khoản vay đến việc thực hiện các cam kết với khách hàng.

giao-dich-va-gia-usd-tai-ngan-hang-mb28.jpg
NHNN cho hay đang phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Ảnh: TL

Bài toán điều hành lãi suất không có một giải pháp đơn lẻ. Khi chính sách giữ được ổn định vĩ mô nhưng vẫn tạo dư địa giảm chi phí vốn, doanh nghiệp mới có thể tính toán đầu tư dài hạn, người dân chủ động kế hoạch vay nợ và ngân hàng duy trì được hoạt động an toàn. Đó mới là nền tảng để tín dụng hỗ trợ tăng trưởng thay vì chỉ chạy theo quy mô.

Nổi bật
      Mới nhất
      Hạ nhiệt áp lực lãi suất, tạo đà bứt phá tăng trưởng hai con số- Kỳ 3: Giải bài toán lãi suất không thể chỉ nhìn vào một phía
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO