Giáo sư Đặng Vũ Hỷ(Kỳ 2): Bàn tay bác sĩ và lòng trắc ẩn trong bóng tối
GS.BS Đặng Vũ Hỷ không chỉ điêu luyện trong nghệ thuật lâm sàng “sờ, nắn, gõ, nghe”, mà còn sáng ngời y đức qua cái nắm tay trần gạt bỏ định kiến với bệnh nhân phong và tấm lòng nhân vị bao la dành cho con người.

Giáo sư, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ – người đặt nền móng cho ngành Da liễu Việt Nam, chân dung vị Giáo sư y khoa đầu ngành hiện lên trọn vẹn qua ký ức sâu đậm của các thế hệ học trò. Không chỉ là một bậc thầy về nghệ thuật khám bệnh lâm sàng “sờ, nắn, gõ, nghe”, di sản lớn nhất ông trao lại cho đời chính là đôi bàn tay ấm và tấm lòng nhân vị bao la – nơi người thầy thuốc không bao giờ cho phép mình lơ là trước nỗi đau hay quay lưng với phẩm giá con người.
"Sờ, nắn, gõ, nghe" – Nghệ thuật lâm sàng và những đêm đông Cổ Định
Năm 1950, sau những năm tháng lăn lộn tại các trạm quân y dã chiến ở Nam Định và Ty Y tế Ninh Bình, GS. Đặng Vũ Hỷ được điều động về giảng dạy tại Trường Y sĩ Việt Nam liên khu III - IV tại vùng tự do Thanh Hóa. Giai đoạn này, ông đảm nhận giảng dạy môn Nội khoa và Triệu chứng học (chưa phải chuyên ngành Da liễu như sau này).

Trong ký ức của các thế hệ học sinh Trường Y sĩ Liên khu III - IV, hình ảnh người thầy Đặng Vũ Hỷ hiện lên vô cùng đĩnh đạc. GS. Phạm Kim (Nguyên Phó Viện trưởng Viện Tai Mũi Họng Trung ương, nguyên Chủ tịch Công đoàn Y tế Việt Nam) xúc động nhớ lại:
"Tôi nhớ thầy Đặng Vũ Hỷ có vóc người cao lớn đường bệ, với đôi mắt hóm hỉnh, tinh tế, với nụ cười hiền hậu luôn nở trên môi, toát lên một tâm hồn cởi mở, vị tha nhưng cũng rất nghiêm khắc với mọi sai sót của học trò đối với người bệnh dù là nhỏ nhất...
Trong hoàn cảnh chiến tranh luôn phải đề phòng máy bay giặc oanh tạc, khoác chiếc áo choàng vải thô nhuộm xanh mà trông thầy lúc nào cũng chững chạc, tề chỉnh lạ thường khiến thoạt nhìn, người bệnh đã dễ dàng kính trọng và gửi trọn niềm tin".
Cũng theo GS. Phạm Kim, bài học vỡ lòng mà thầy Hỷ truyền dạy cho học trò chính là nghệ thuật khám bệnh bằng ngũ quan: "Sờ, nắn, gõ, nghe". Nhìn thầy khám cho người bệnh, học trò bị thu hút bởi sự mềm mại, khéo léo và nhẹ nhàng của đôi bàn tay thầy. Ông luôn nhắc nhở học trò rằng việc quan sát tinh tế, gõ và nghe cẩn trọng không chỉ phát hiện ra nhiều thông tin quý báu về bệnh tật, định hướng cho xét nghiệm cận lâm sàng, mà quan trọng hơn là tạo ra mối quan hệ hai chiều về mặt tâm lý giữa bệnh nhân và thầy thuốc.
.png)
BS. Nguyễn Kim Phong – một học trò xuất sắc khác của ông thời kỳ kháng chiến – cũng ghi lại trong bài hồi ký "Hình ảnh thầy trong ký ức của tôi", in trong cuốn "Đặng Vũ Hỷ - Cuộc đời và sự nghiệp", do NXB Y học xuất bản năm 2009 ấn hành:
"Phương pháp giảng dạy rất thị phạm của thầy đã giúp chúng tôi nhanh chóng hiểu và nhớ bài. Sự tận tâm, chu đáo trong việc chuẩn bị bài giảng cùng với cách giảng chuẩn xác, đôi khi pha chút dí dỏm của thầy đã thu hút chúng tôi say mê học tập...
Để bù lại những thiếu thốn các phương tiện cận lâm sàng để hỗ trợ cho chẩn đoán và điều trị, thầy đã dạy chúng tôi biết sử dụng tối đa các giác quan của người thầy thuốc để phát hiện các dấu hiệu và triệu chứng bất thường trên cơ thể người bệnh. Thầy đã hướng dẫn uốn nắn chúng tôi rất tỉ mỉ cách quan sát, nhìn xét bệnh nhân, cách hỏi bệnh và lắng nghe bệnh nhân..."

BS. Nguyễn Kim Phong kể lại chi tiết rất sinh động: Do thời chiến không có máy X-quang hay phòng xét nghiệm hiện đại, thầy Hỷ đã dạy trò cách dùng đôi mắt và đôi tay để "chụp" tổn thương: vẽ trên mình bệnh nhân những vạch chéo song song màu tím ở vùng gõ đục để xác định bờ gan, lách; dùng các dấu chấm xanh ở vùng phổi có "ran" do lao hay viêm phổi. Những hình ảnh trực quan đó đã giúp các y bác sĩ trẻ sau khi ra trường có thể vững vàng tự mình chẩn đoán và xử lý các ca bệnh phức tạp ở khắp các vùng sâu, vùng xa, vùng tự do hay hậu phương.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hình ảnh người thầy Đặng Vũ Hỷ miệt mài giảng bài cho học trò trong đình làng Cổ Định (Thanh Hóa) dưới ánh sáng leo lét của những ngọn đèn dầu phòng không giữa đêm đông gió lạnh vẫn mãi là một biểu tượng đẹp đẽ về tinh thần truyền nghề cho thế hệ mai sau.
Quả mít chín, tờ báo lót và cái gạt tay lịch sử
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, GS. Đặng Vũ Hỷ trở về Thủ đô Hà Nội. Ông được giao trọng trách làm Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu Trường Đại học Y Hà Nội kiêm Chủ nhiệm Khoa Da liễu Bệnh viện Bạch Mai. Ngày 26/1/1955, ông vinh dự là một trong 9 thầy thuốc đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phong tặng danh hiệu Giáo sư.

Thời kỳ này, bệnh phong (hủi/cùi) vẫn bị coi là một thứ "bản án chung thân". Bệnh nhân không chỉ chịu sự tàn phá khủng khếp về thể xác mà còn bị xã hội kỳ thị, xua đuổi, bị đẩy vào các trại phong cô lập ở những nơi hẻo lánh.
Là nhà khoa học đầu ngành, GS. Đặng Vũ Hỷ không chọn cách ngồi trong phòng làm việc sang trọng. Ông thường xuyên trực tiếp lội về các trại phong xa xôi để thăm khám, chữa trị và lắng nghe tâm tư của người bệnh. Trong một lần về thăm và làm việc tại một trại phong ở miền Trung, một bệnh nhân phong lâu năm vì quá xúc động trước sự ân cần của vị giáo sư lớn, đã chắt chiu mang một quả mít chín vừa hái trong vườn ra biếu ông.

Một người đi cùng đoàn hỗ trợ, do tâm lý e ngại lây nhiễm theo phản xạ tự nhiên thời bấy giờ, đã nhanh tay lấy một tờ báo cũ trải ra lót để giáo sư đỡ lấy quả mít.
GS. Đặng Vũ Hỷ nhìn hành động đó nhưng không nói một lời chê trách. Ông lặng lẽ dùng tay gạt tờ báo sang một bên, vươn hai bàn tay trần ra đón lấy quả mít, rồi chủ động nắm chặt lấy bàn tay sần sùi, biến dạng của người bệnh phong.
Hành động ấy chỉ diễn ra trong vài giây nhưng có sức nặng hơn ngàn lời giảng. Đối với một con người đã quen với sự lảng tránh và ánh mắt ghê tởm của người đời, cái nắm tay trần của vị Giáo sư đầu ngành chính là một sự giải thoát tinh thần vĩ đại, một lời khẳng định mạnh mẽ: "Anh vẫn là một con người, và anh hoàn toàn xứng đáng được tôn trọng!"
Tận tụy với khoa học, nghiêm cẩn với học trò
Sự bao dung, nhân ái của GS. Đặng Vũ Hỷ luôn đi cùng với tinh thần nghiêm cẩn tuyệt đối trong nghiên cứu khoa học và đào tạo y khoa.
Từ năm 1954 đến năm 1972, trên cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Da liễu, ông đã biên soạn hàng loạt giáo trình, công bố 48 công trình nghiên cứu khoa học có giá trị chuyên môn cao trên các tạp chí trong và ngoài nước. Đặc biệt, ông rất quan tâm đến các giải pháp điều trị bệnh da liễu mang tính thực tiễn cao, chi phí thấp nhằm phù hợp với điều kiện kinh tế còn nghèo khó của nhân dân lúc bấy giờ.



Trong giảng dạy và thực hành lâm sàng, ông đòi hỏi ở sinh viên và các bác sĩ trẻ sự cẩn trọng tỉ mỉ. Ông luôn nhắc nhở học trò không được lơ là quan sát lâm sàng hay quá phụ thuộc vào máy móc xét nghiệm. Đối với ông, sai sót trong chẩn đoán và điều trị không chỉ là một lỗi kỹ thuật, mà là tổn hại trực tiếp đến sức khỏe và lòng tin của người bệnh.
Nhiều học trò của ông sau này đã trở thành những cán bộ nòng cốt, nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong ngành Y tế, từ lãnh đạo Bộ Y tế, các Viện, Cục, Trường đại học cho đến Giám đốc các Sở Y tế địa phương. Tất cả họ đều mang theo hành trang là những bài học y đức và nghệ thuật khám bệnh tỉ mỉ mà thầy Hỷ đã truyền dạy từ những ngày gian khó ở kháng chiến.
Bức thư dở dang nơi đất khách và di sản để lại
Những năm cuối đời, căn bệnh Parkinson hiểm nghèo khiến việc đi lại và viết lách của GS. Đặng Vũ Hỷ gặp rất nhiều khó khăn. Năm 1971, ông được Nhà nước đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc) để điều trị.
Dù phải chống chọi với bệnh tật nơi đất khách, tâm trí ông vẫn vẹn nguyên sự trăn trở dành cho y học nước nhà. Trước khi qua đời, ông vẫn cặm cụi đặt bút viết một bức thư gửi cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đề xuất những giải pháp cấp bách nhằm phòng chống và ngăn chặn các bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm gia tăng, bảo vệ sức khỏe và giống nòi dân tộc.

Ngày 4 tháng 10 năm 1972, Giáo sư Đặng Vũ Hỷ trút hơi thở cuối cùng tại Quảng Châu ở tuổi 62. Sự ra đi của ông là một tổn thất to lớn cho nền y học Việt Nam. Anh chị em học viên, đồng nghiệp và các thế hệ học trò ngành y đều bàng hoàng, tiếc thương một người thầy vĩ đại.
Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về Khoa học và Công nghệ cho cụm công trình nghiên cứu xuất sắc về da liễu và bệnh phong. Tại Bệnh viện Phong và Da liễu Trung ương Quy Hòa (Quy Nhơn), tượng bán thân của ông được trang trọng đặt trong Vườn tượng danh nhân y học – nơi hàng ngày bệnh nhân và các thế hệ y bác sĩ vẫn đến thắp hương tri ân người thầy thuốc đã dành trọn đời mình cho những số phận bất hạnh.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, những dòng ký ức của các thế hệ học trò như GS. Phạm Kim hay BS. Nguyễn Kim Phong vẫn vẹn nguyên niềm tôn kính dành cho GS. Đặng Vũ Hỷ.
Hình ảnh vị Giáo sư da liễu khoác chiếc áo choàng nhuộm xanh giữa chiến khu, miệt mài giảng bài trong đình làng Cổ Định dưới ánh đèn dầu, và đôi bàn tay trần không ngần ngại gạt tờ báo lót để nắm lấy tay người bệnh phong vẫn mãi là một biểu tượng bất tử của Y đức, Y thuật và Tấm lòng Nhân vị trong lịch sử Y học Việt Nam.
Còn tiếp


