Thời sự

GS. Nguyễn Đăng Hưng: Việt Nam hợp tác với Vương quốc Bỉ phải tạo năng lực công nghệ thực chất

Hoàng Bắc • 24/10/2026 10:35

Chuyến thăm chính thức Vương quốc Bỉ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (từ ngày 21 đến 24/10) mở ra kỳ vọng thúc đẩy hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa hai nước, từ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến logistics cảng biển xanh và năng lượng tái tạo.

GS. Nguyễn Đăng Hưng (sinh năm 1941 tại Quảng Nam, nay là TP. Đà Nẵng) là một nhà khoa học người Việt nổi tiếng tại Vương quốc Bỉ, từng giảng dạy tại Đại học Liège.

Ông là một trong những trí thức Việt kiều tiên phong trong việc thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục giữa Bỉ và Việt Nam, đặc biệt là người sáng lập các Chương trình đào tạo cao học Bỉ - Việt tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM và Đại học Bách Khoa Hà Nội.

GS Đăng Hưng
GS. Nguyễn Đăng Hưng cho rằng, Việt Nam hợp tác với Vương quốc Bỉ phải tạo năng lực công nghệ thực chất. Ảnh: Hoàng Bắc

Với nhiều năm gắn bó với khoa học, giáo dục hai nước, ông chia sẻ với phóng viên Một Thế Giới về những đề xuất thúc đẩy nghiên cứu chung, đào tạo nhân lực trình độ cao, tiếp cận công nghệ lõi và ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Việt Nam.

Việt Nam nên nghiên cứu và học hỏi mô hình IMEC tại thành phố Leuven của Vương quốc Bỉ

- Thưa GS, Bỉ sở hữu trung tâm nghiên cứu vi mạch IMEC hàng đầu thế giới. Theo GS, Việt Nam cần chuẩn bị những nền tảng hạ tầng và cơ chế nào để hợp tác hiệu quả với IMEC, chuyển từ đào tạo kỹ năng cơ bản sang tiếp cận công nghệ lõi và thiết kế vi mạch chuyên sâu?

- GS. Nguyễn Đăng Hưng: Theo tôi, Việt Nam nên nghiên cứu và học hỏi mô hình IMEC tại thành phố Leuven của Bỉ, từ đó xây dựng một trung tâm nghiên cứu có sự tham gia của các trường đại học, doanh nghiệp tư nhân và chính quyền, đặt tại Hà Nội hoặc TP.HCM. Điều quan trọng không phải là sao chép nguyên trạng một mô hình nước ngoài, mà là hiểu cách họ tổ chức nghiên cứu, kết nối nguồn lực và đưa tri thức khoa học vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

1792668094916_1549476417877564978_4577619224421003828_07788a5da8126a54d76cedd8f7feb940jpg1792668113.jpg
Tọa đàm cấp cao giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với lãnh đạo doanh nghiệp tiêu biểu châu Âu và Vương quốc Bỉ. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Năm 2022, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đến thăm và làm việc với IMEC tại Leuven. Theo tôi, sau chuyến thăm đó, Việt Nam cần có những bước triển khai cụ thể hơn để biến sự quan tâm ở cấp cao thành các chương trình hợp tác thực chất. Một chuyến thăm có thể mở ra cơ hội, nhưng để tạo chuyển biến, phải có kế hoạch hành động, đối tác chịu trách nhiệm, nguồn lực tài chính và mục tiêu đầu ra rõ ràng.

Cũng cần nhìn nhận IMEC không đơn thuần là một cơ sở nghiên cứu vi mạch. Trung tâm này còn phát triển các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học sự sống và công nghệ y tế. Đây là những hướng nghiên cứu có khả năng tạo ra giá trị lớn, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác giữa Việt Nam với Vương quốc Bỉ ngoài lĩnh vực bán dẫn.

Tôi đề nghị bắt đầu bằng việc lựa chọn những sinh viên có nền tảng chuyên môn tốt ở bậc sau đại học, đặc biệt là bậc thạc sĩ, để gửi sang Bỉ học tập, nghiên cứu tại các cơ sở phù hợp. Việc đào tạo cần gắn với những chương trình nghiên cứu cụ thể, thay vì chỉ dừng ở mục tiêu nâng cao bằng cấp. Khi trở về Việt Nam, các học viên cần có môi trường làm việc, phòng thí nghiệm và nhóm nghiên cứu đủ điều kiện để tiếp tục phát triển năng lực.

Về phía Việt Nam, cần xây dựng cơ chế hợp tác dài hạn, tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, đồng thời xác định rõ quyền sở hữu trí tuệ, khả năng tiếp nhận công nghệ và phương án thương mại hóa kết quả. Nếu chỉ đào tạo nhân lực mà không có hệ sinh thái nghiên cứu tiếp nhận, hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế.

Theo tôi, điều cốt lõi là phải chuyển từ tư duy tiếp cận công nghệ thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn sang xây dựng năng lực nghiên cứu lâu dài. Muốn làm chủ công nghệ lõi, Việt Nam phải có đội ngũ đủ trình độ, có cơ sở nghiên cứu và có sự liên kết bền vững với những trung tâm hàng đầu như IMEC.

Kết nối nghiên cứu y sinh với nhu cầu thực tế

- Bỉ có thế mạnh về nghiên cứu khoa học sự sống, công nghệ y tế và hệ thống logistics dược phẩm. Từ kinh nghiệm kết nối nghiên cứu quốc tế, GS nhận định mô hình liên kết nào khả thi nhất để các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam tiếp nhận hiệu quả công nghệ sản xuất thuốc đặc trị thế hệ mới từ Bỉ?

- GS. Nguyễn Đăng Hưng: Theo tôi, cần đặt vấn đề hợp tác về công nghệ y tế và dược phẩm trong tổng thể quan hệ nghiên cứu khoa học giữa Việt Nam với Vương quốc Bỉ, thay vì xem đây là một lĩnh vực hoàn toàn tách biệt. Như tôi đã đề cập, IMEC có các hướng nghiên cứu về khoa học sự sống và công nghệ y tế. Đây là những lĩnh vực Việt Nam có thể tìm hiểu để xây dựng chương trình hợp tác phù hợp với năng lực và nhu cầu trong nước.

Trung tâm Vi điện tử nano và công nghệ kỹ thuật số IMEC - Vương quốc Bỉ. Ảnh: Dương Giang-TTXVN
Trung tâm Vi điện tử nano và công nghệ kỹ thuật số IMEC - Vương quốc Bỉ. Ảnh: Dương Giang (TTXVN)

Tuy nhiên, để tiếp nhận công nghệ sản xuất thuốc đặc trị thế hệ mới, cần phân biệt giữa việc tiếp cận tri thức khoa học, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển sản phẩm và tổ chức sản xuất. Mỗi khâu có yêu cầu riêng về chuyên môn, cơ sở vật chất, nguồn lực và cơ chế quản lý. Không thể chỉ đưa chuyên gia sang trao đổi hoặc tổ chức một số khóa đào tạo mà kỳ vọng hình thành ngay năng lực làm chủ công nghệ.

Tôi cho rằng cần xây dựng các chương trình hợp tác có mục tiêu rõ ràng giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp của hai nước. Các trường đại học có thể đảm nhận phần đào tạo và nghiên cứu nền tảng; viện nghiên cứu tham gia giải quyết những vấn đề chuyên môn cụ thể; còn doanh nghiệp xác định nhu cầu ứng dụng, khả năng sản xuất và thị trường. Sự kết nối này phải được thiết kế ngay từ đầu để kết quả nghiên cứu có cơ hội đi tiếp đến các giai đoạn phát triển và ứng dụng.

Đối với Việt Nam, cần lựa chọn những lĩnh vực có nhu cầu thực tế và có khả năng huy động đội ngũ nghiên cứu trong nước. Thay vì dàn trải nguồn lực, nên xác định một số hướng ưu tiên, xây dựng nhóm nghiên cứu chung và tổ chức đào tạo chuyên sâu cho nhân lực trẻ. Những người được đào tạo cần có cơ hội tiếp tục nghiên cứu khi trở về, đồng thời duy trì liên hệ chuyên môn với các đối tác tại Vương quốc Bỉ.

Một vấn đề quan trọng khác là cơ chế hợp tác phải làm rõ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu, trách nhiệm đầu tư, điều kiện chuyển giao và khả năng tiếp tục phát triển công nghệ tại Việt Nam. Nếu không xác định những nội dung này từ đầu, kết quả hợp tác có thể dừng lại ở công bố khoa học mà chưa tạo được sản phẩm ứng dụng.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng hợp tác khoa học và công nghệ với Bỉ cần được phát triển theo hướng lâu dài, có tổ chức và có khả năng tiếp nối. Đào tạo nhân lực, nghiên cứu chung và ứng dụng công nghệ phải gắn bó với nhau. Khi các khâu này được kết nối, Việt Nam mới có cơ sở nâng cao năng lực nghiên cứu y sinh, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và từng bước phát triển năng lực của chính mình.

Cảng biển xanh: Học lý thuyết tại Leuven, thực hành ở Antwerp-Bruges

- Chuyến thăm nhấn mạnh việc chuyển giao mô hình số hóa từ cảng Antwerp-Bruges. Dưới góc nhìn khoa học ứng dụng, Việt Nam có thể tiếp nhận công nghệ quản lý chuỗi cung ứng thông minh và giảm phát thải carbon từ Vương quốc Bỉ vào các cụm cảng trọng điểm như Lạch Huyện hay Cái Mép – Thị Vải bằng cách nào?

- GS. Nguyễn Đăng Hưng: Đây là một đề xuất cụ thể và có ý nghĩa thực tiễn. Theo tôi, Bỉ có thế mạnh trong việc đưa nghiên cứu lý thuyết vào ứng dụng, biến những kết quả khoa học thành giải pháp phục vụ hoạt động sản xuất, quản lý và kinh doanh. Vì vậy, Việt Nam nên tiếp cận kinh nghiệm của Vương quốc Bỉ theo hướng kết hợp học thuật với thực hành, thay vì chỉ tổ chức trao đổi ở cấp độ chính sách.

hwykcsjbvadfyzs0uiorsgnr59ghhdaoehy2jwvso3xg-_ttxvn_tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tham-cang-antwerp-bruges-9106438-1.jpg.avif.jpeg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cảng Antwerp-Bruges (Vương quốc Bỉ). Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Mô hình số hóa cảng Antwerp-Bruges có thể là một trường hợp để Việt Nam nghiên cứu khi phát triển hệ thống quản lý cảng biển thông minh, đặc biệt tại Cái Mép – Thị Vải. Đây là hướng hợp tác đáng quan tâm bởi việc số hóa hoạt động cảng không chỉ liên quan đến công nghệ thông tin, mà còn đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chủ thể trong chuỗi vận tải, logistics và khai thác cảng.

Theo tôi, có thể kết hợp việc học hỏi lý thuyết, phương pháp nghiên cứu tại Leuven với quá trình tìm hiểu, thực hành và trao đổi kinh nghiệm tại Antwerp-Bruges. Hai địa phương đều thuộc vùng Flanders của Vương quốc Bỉ. Việc kết nối các cơ sở nghiên cứu, chính quyền và doanh nghiệp trong cùng một vùng có thể tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức chương trình hợp tác. Nếu hai bên thống nhất được mục tiêu, nội dung và trách nhiệm cụ thể, việc triển khai một thỏa thuận hợp tác sẽ có cơ sở thực tế hơn.

Đối với Việt Nam, trước hết cần xác định những vấn đề cần giải quyết tại từng cụm cảng. Chẳng hạn, hoạt động quản lý dữ liệu, phối hợp giữa các đơn vị khai thác, kết nối vận tải và theo dõi hiệu quả sử dụng nguồn lực đều có thể được đưa vào chương trình nghiên cứu. Những nội dung này cần được khảo sát từ thực tế, sau đó mới lựa chọn công nghệ và phương án triển khai phù hợp.

Cũng cần tránh cách tiếp cận coi chuyển giao công nghệ đơn thuần là mua sắm hệ thống phần mềm hoặc thiết bị. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đội ngũ vận hành hiểu được nguyên lý, có khả năng khai thác dữ liệu và điều chỉnh quy trình theo điều kiện thực tế. Vì thế, đào tạo nhân lực và trao đổi chuyên gia phải đi cùng với việc xây dựng hệ thống.

Về giảm phát thải carbon, hai bên có thể đưa yêu cầu môi trường vào các chương trình nghiên cứu và đánh giá hiệu quả vận hành. Tuy nhiên, những giải pháp cụ thể cần dựa trên dữ liệu và điều kiện của từng cảng, không thể áp dụng máy móc mô hình của Vương quốc Bỉ vào Việt Nam.

Hướng đi phù hợp là xây dựng một chương trình hợp tác có cả phần nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tại cảng. Cái Mép – Thị Vải có thể là địa điểm để xem xét triển khai những nội dung phù hợp, từ đó đánh giá kết quả trước khi mở rộng. Điều quan trọng là phải biến kinh nghiệm quốc tế thành năng lực thực tế của đội ngũ Việt Nam.

Hạn mặn ĐBSCL cần được đưa vào chương trình hợp tác cấp quốc gia

- Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với hạn hán, xâm nhập mặn và những thách thức về tài nguyên nước. Theo GS, lộ trình nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao giống cây trồng chịu mặn cũng như công nghệ quản lý nước của Vương quốc Bỉ nên được triển khai như thế nào?

- GS. Nguyễn Đăng Hưng: Theo tôi, câu hỏi về hạn mặn ở ĐBSCL không nên chỉ được xem là một đề tài nghiên cứu riêng lẻ. Đây là vấn đề có ảnh hưởng rộng đến sản xuất, đời sống và sự phát triển của cả vùng, vì vậy cần được đưa vào chương trình hợp tác khoa học và công nghệ ở tầm mức quốc gia giữa Việt Nam với Vương quốc Bỉ.

anh-han-man-1629.webp
Nông dân xã U Minh Thượng, tỉnh An Giang tưới tiêu rau màu. Ảnh: Thuỳ Trang

Tôi mong muốn hai nước nghiên cứu khả năng xây dựng một khuôn khổ hợp tác đủ rộng để giải quyết những khó khăn mà ĐBSCL đang phải đối mặt. Khi vấn đề được đặt trong một chương trình dài hạn, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và cơ quan chuyên môn của hai nước mới có điều kiện phối hợp, xác định mục tiêu và tổ chức nguồn lực một cách liên tục.

Đối với giống cây trồng chịu mặn, cần bắt đầu bằng việc xác định nhu cầu cụ thể của từng vùng sản xuất và những điều kiện tự nhiên có liên quan. Việc nghiên cứu hoặc tiếp nhận giống không thể tách rời yêu cầu đánh giá khả năng thích nghi với môi trường, hiệu quả sản xuất và điều kiện canh tác tại địa phương. Các kết quả thử nghiệm cần được đánh giá trước khi xem xét khả năng ứng dụng rộng hơn.

Tương tự, đối với công nghệ quản lý tài nguyên nước, cần xác định rõ những vấn đề thực tế mà địa phương muốn giải quyết. Nghiên cứu khoa học chỉ có ý nghĩa khi có dữ liệu đầu vào phù hợp, có sự tham gia của những đơn vị am hiểu điều kiện địa phương và có cơ chế đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Việt Nam cần tận dụng năng lực nghiên cứu quốc tế nhưng đồng thời phải phát triển đội ngũ trong nước đủ khả năng tiếp nhận, vận hành và tiếp tục hoàn thiện giải pháp.

Một chương trình hợp tác như vậy cần có sự tham gia của nhiều chủ thể, từ cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu đến doanh nghiệp và các đơn vị trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên nước. Các bên phải thống nhất được những vấn đề ưu tiên, nội dung nghiên cứu và trách nhiệm thực hiện. Nếu chỉ dừng ở việc trao đổi chuyên gia hoặc ký kết những thỏa thuận chung, hiệu quả sẽ khó được duy trì lâu dài.

Điều tôi muốn nhấn mạnh là cần nâng tầm hợp tác Việt Nam – Vương quốc Bỉ, đưa những thách thức thực tế của Việt Nam vào chương trình nghiên cứu chung. ĐBSCL là một địa bàn có thể đặt ra những bài toán cụ thể để hai bên cùng nghiên cứu và tìm kiếm giải pháp. Kết quả hợp tác cần hướng đến khả năng ứng dụng, đồng thời giúp Việt Nam nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và chủ động hơn trong việc giải quyết những vấn đề của mình.

“Du học tại chỗ” để phát huy nguồn lực trí thức Việt Nam

- Để xây dựng các chương trình nghiên cứu chung dài hạn giữa những trường đại học lớn của Vương quốc Bỉ như KU Leuven, UCLouvain với các trung tâm đổi mới sáng tạo Việt Nam, cần tháo gỡ những rào cản nào? Làm thế nào để phát huy mạng lưới trí thức kiều bào tại Vương quốc Bỉ theo mô hình đặt hàng những bài toán thực tiễn, thưa GS?

- GS. Nguyễn Đăng Hưng: Bản thân tôi là một thành quả của hợp tác giáo dục Việt Nam – Vương quốc Bỉ. Tôi đã đi từ vị trí sinh viên đến khi trở thành giáo sư tại Liège, đồng thời sáng lập và điều động các trung tâm đào tạo cao học Việt Nam – Vương quốc Bỉ tại Trường Đại học Bách khoa TP.HCM và Đại học Bách khoa Hà Nội trong giai đoạn 1995-2005.

nguyen-dang-hung2_11.jpg
Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và GS. Nguyễn Đăng Hưng trong dịp gặp gỡ các nhà khoa học, nhân sĩ và trí thức. Ảnh: TL

Từ trải nghiệm đó, tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp tục phát triển những mô hình hợp tác giáo dục đã có, thay vì mỗi giai đoạn lại bắt đầu bằng những chương trình mới mà chưa tận dụng đầy đủ kinh nghiệm trước đây.

Tại sao chúng ta không lấy cảm hứng từ mô hình “du học tại chỗ” mà chúng tôi từng triển khai để nghiên cứu áp dụng rộng rãi hơn? Theo tôi, đây là một hướng đi có ý nghĩa đối với bài toán kinh phí đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao. Thay vì mọi học viên đều phải ra nước ngoài trong thời gian dài, hai bên có thể tổ chức các chương trình đào tạo ngay tại Việt Nam với sự tham gia của giảng viên, giáo sư và chuyên gia Vương quốc Bỉ, đồng thời duy trì những đợt nghiên cứu, trao đổi học thuật tại các trường đối tác.

Mô hình này cần được xây dựng trên cơ sở hợp tác thực chất giữa các trường đại học. Chương trình đào tạo phải bảo đảm chất lượng học thuật, có sự tham gia của đội ngũ giảng viên phù hợp và gắn với nhu cầu nghiên cứu của Việt Nam. Việc tổ chức đào tạo tại chỗ không có nghĩa là giảm yêu cầu chuyên môn, mà là tìm cách sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực quốc tế và cơ sở đào tạo trong nước.

Đối với các chương trình nghiên cứu chung, tôi cho rằng cần có cơ chế đặt hàng từ những vấn đề cụ thể. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và trung tâm đổi mới sáng tạo phải xác định được những bài toán cần giải quyết, sau đó kết nối với các nhóm nghiên cứu có năng lực. Khi nhiệm vụ được xác định rõ, việc huy động chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài sẽ thiết thực hơn, bởi họ có thể đóng góp chuyên môn vào một mục tiêu cụ thể thay vì chỉ tham gia các hoạt động giao lưu.

Những rào cản về thủ tục, kinh phí, tổ chức nghiên cứu và cơ chế công nhận kết quả cần được rà soát trong từng chương trình hợp tác. Các bên cũng cần thống nhất từ đầu về trách nhiệm, quyền lợi và cách sử dụng kết quả nghiên cứu. Đây là những điều kiện quan trọng để các chương trình không bị gián đoạn khi thay đổi nhân sự hoặc kết thúc một giai đoạn tài trợ.

Tôi cho rằng mạng lưới trí thức kiều bào là nguồn lực cần được tổ chức và sử dụng hiệu quả hơn. Những người đã có kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học nước ngoài có thể làm cầu nối giữa các cơ sở khoa học của hai nước. Nhưng muốn phát huy nguồn lực ấy, Việt Nam cần có chương trình cụ thể, cơ chế hợp tác rõ ràng và những bài toán đủ sức thu hút chuyên gia tham gia lâu dài.

Kinh nghiệm của tôi cho thấy hợp tác giáo dục chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được duy trì liên tục và có khả năng đào tạo những thế hệ tiếp nối. Mô hình “du học tại chỗ”, nếu được nghiên cứu và tổ chức phù hợp, có thể góp phần giảm chi phí, nâng cao chất lượng đào tạo và tạo nền tảng cho các chương trình nghiên cứu chung giữa Việt Nam với Vương quốc Bỉ.

Hoàng Bắc