Đồng Nai kết nối sân bay, cảng biển bằng hệ sinh thái logistics số
Cảng hàng không quốc tế Long Thành, 4 khu bến cảng biển cùng mạng lưới đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không tạo nên lợi thế lớn cho Đồng Nai.
Nhưng có hạ tầng chưa đủ. Bài toán đặt ra là làm sao để hàng hóa đi qua các đầu mối nhanh hơn, các phương thức vận tải phối hợp nhịp nhàng và doanh nghiệp có thể nhìn thấy, điều phối toàn bộ hành trình trên một hệ sinh thái số.
Từ những đầu mối hạ tầng đến một dòng hàng hóa thông suốt
Tại Digifest Đồng Nai 2026, diễn ra từ ngày 30/10 đến 1/11, câu chuyện logistics được đặt trong một yêu cầu lớn hơn: kết nối những hạ tầng đang hiện hữu và hình thành thành một mạng lưới vận hành thống nhất. Đây cũng là nội dung được Sở Xây dựng TP. Đồng Nai đưa ra tại hội thảo về hệ sinh thái logistics số.
.jpg)
Đồng Nai có nhiều lợi thế để phát triển mạng lưới này. Cảng hàng không quốc tế Long Thành đang mở ra một đầu mối hàng không mới. Hệ thống cảng biển có các khu bến Phước An, Gò Dầu – Phước Thái, cùng các cảng thủy nội địa. Mạng lưới giao thông gồm 4 phương thức: đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không.
Bức tranh hạ tầng đã có những mắt xích quan trọng. Nhưng để hàng hóa di chuyển thông suốt từ nơi xuất phát đến cảng biển hay sân bay, từng mắt xích phải được kết nối với nhau. Một tuyến đường thuận lợi nhưng thiếu điểm trung chuyển phù hợp, một cảng có năng lực tiếp nhận nhưng kết nối vận tải chưa đồng bộ, đều có thể làm giảm hiệu quả của cả chuỗi.
Đó là lúc logistics không còn là câu chuyện riêng của từng cảng, sân bay hay doanh nghiệp vận tải. Vấn đề nằm ở khả năng phối hợp toàn hệ thống.
Theo Sở Xây dựng, để hình thành hệ sinh thái logistics số, Đồng Nai cần xử lí đồng thời 4 vấn đề: hạ tầng, tổ chức vận hành, dữ liệu và cơ chế phối hợp. Đây không phải những phần việc tách rời. Một khâu thiếu kết nối có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hành trình hàng hóa.
Trước hết, quy hoạch hạ tầng phải nhìn từ luồng vận chuyển thực tế. Hàng hóa đi từ đâu, qua kho bãi nào, sử dụng phương thức vận tải gì và kết nối với cảng biển hay sân bay ra sao? Những câu hỏi này cần được trả lời khi xác định các tuyến kết nối và điểm trung chuyển ưu tiên.
Nếu chỉ nhìn từng công trình riêng lẻ, rất khó đánh giá đúng hiệu quả của toàn mạng lưới. Ngược lại, khi đặt các đầu mối vào cùng một chuỗi vận chuyển, thành phố có thể nhận diện những điểm nghẽn và xác định nơi cần đầu tư trước.
Hạ tầng kết nối tốt vẫn chưa đủ nếu các chủ thể vận hành thiếu phối hợp. Một chuyến hàng liên quan đến doanh nghiệp vận tải, kho bãi, đơn vị khai thác cảng, hàng không và nhiều đơn vị khác. Mỗi bên có quy trình riêng. Vì vậy, việc lập kế hoạch, bố trí phương tiện, tiếp nhận hàng hóa và xử lí phát sinh cần có cơ chế phối hợp rõ ràng.
Dữ liệu là yếu tố giúp các khâu này gặp nhau. Thông tin về hàng hóa, lịch trình vận chuyển, năng lực kho bãi và tình hình giao thông nếu được cập nhật, chia sẻ kịp thời sẽ giúp doanh nghiệp chủ động điều phối. Cơ quan quản lí cũng có thêm cơ sở theo dõi hoạt động và dự báo nhu cầu vận tải.
Tuy nhiên, không thể chỉ nói đến chia sẻ dữ liệu mà thiếu quy định về cách thức thực hiện. Đồng Nai cần xác định loại dữ liệu nào được kết nối, tiêu chuẩn kỹ thuật ra sao, ai có quyền truy cập và trách nhiệm của từng bên đến đâu. Bảo mật và an toàn thông tin cũng là yêu cầu phải tính đến ngay từ đầu.
Công nghệ phải giải được bài toán vận hành
Từ yêu cầu kết nối đó, Sở Xây dựng TP. Đồng Nai đề xuất 4 nhóm giải pháp. Trọng tâm đầu tiên là tích hợp quy hoạch, kết nối hạ tầng logistics, đặc biệt giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành, hệ thống cảng biển và mạng lưới giao thông liên vùng.
Cùng với hạ tầng là kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp vận tải, kho bãi, cảng, sân bay và cơ quan quản lí. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, các bên có thể phối hợp trên cùng một nền tảng thông tin, thay vì xử lí rời rạc theo từng khâu.

Trên nền tảng đó, công nghệ số có thể tham gia sâu hơn vào hoạt động logistics. Trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ dự báo nhu cầu vận chuyển, nhận diện nguy cơ ùn tắc và tối ưu hóa phương án vận tải. Internet vạn vật (IoT) giúp theo dõi phương tiện, hàng hóa và tình trạng vận hành. Công nghệ mô phỏng, bản sao số có thể được sử dụng để đánh giá phương án quy hoạch, năng lực hạ tầng và nhu cầu đầu tư.
Điều cần tránh là đầu tư công nghệ chỉ để có thêm nền tảng hay phần mềm. Một giải pháp chỉ có ý nghĩa khi giúp doanh nghiệp điều phối tốt hơn, giúp cơ quan quản lí có dữ liệu chính xác hơn và cải thiện hiệu quả khai thác hạ tầng.
Nhóm giải pháp còn lại là hoàn thiện cơ chế phối hợp và lộ trình triển khai. Cơ quan quản lí nhà nước, doanh nghiệp và đơn vị công nghệ cần có vai trò cụ thể trong đầu tư, vận hành và chia sẻ dữ liệu. Nếu thiếu cơ chế này, những kết nối trên nền tảng số khó đi vào thực tế.
Thay vì bắt đầu bằng một hệ thống quy mô lớn, Đồng Nai có thể chọn một số luồng hàng hóa hoặc cụm liên kết có nhu cầu rõ ràng để thí điểm. Doanh nghiệp tham gia cần thực sự có nhu cầu và sẵn sàng phối hợp. Kết quả phải được đo bằng những chỉ tiêu cụ thể, từ đó mới có cơ sở điều chỉnh và mở rộng.
Tại hội thảo, Sở Xây dựng đặt ra 3 nhóm vấn đề để chuyên gia và doanh nghiệp cùng thảo luận: lựa chọn mô hình hệ sinh thái logistics số phù hợp; xác định luồng hàng hóa, khu vực, dữ liệu và công nghệ cần ưu tiên; xây dựng chương trình hành động khả thi. Các nội dung này cũng gắn với việc xác định cơ chế phối hợp, mô hình đầu tư, điều kiện thí điểm và chỉ tiêu đánh giá.
Suy cho cùng, hiệu quả của hệ sinh thái logistics số không nằm ở số lượng công nghệ được đưa vào sử dụng. Điều doanh nghiệp cần là hàng hóa được vận chuyển thuận lợi hơn, thời gian và chi phí được kiểm soát tốt hơn. Cơ quan quản lí cần dữ liệu đủ tin cậy để điều phối, còn hạ tầng phải được khai thác đúng năng lực.

