Từ 1/9, chào bán tài sản mã hóa sai quy định có thể bị đình chỉ đến 12 tháng
Nghị định 284/2026/NĐ-CP đặt ra các mức xử phạt khác nhau đối với vi phạm trong chào bán, phát hành tài sản mã hóa và tổ chức thị trường giao dịch.
Mức phạt cao nhất cho các hành vi được quy định tại Điều 6 và Điều 7 lên tới 200 triệu đồng, đồng thời một số vi phạm có thể dẫn đến đình chỉ hoạt động, tước quyền sử dụng giấy phép hoặc buộc hủy bỏ đợt chào bán, phát hành.
Chào bán, phát hành tài sản mã hóa sai đối tượng có thể phải hủy cả đợt
Điều 6 của Nghị định 284/2026/NĐ-CP (Vi phạm quy định về chào bán, phát hành tài sản mã hóa) phân chia vi phạm trong hoạt động chào bán, phát hành tài sản mã hóa thành nhiều mức, tùy tính chất của hành vi. Ở mức phạt từ 70-100 triệu đồng, tổ chức phát hành tài sản mã hóa bị xử phạt nếu vi phạm quy định pháp luật về sở hữu nước ngoài đối với tài sản làm cơ sở cho phát hành tài sản mã hóa.
Mức phạt tăng lên 100-150 triệu đồng nếu tổ chức phát hành cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ hoặc không kịp thời, gây hiểu nhầm cho cơ quan quản lí nhà nước, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa hoặc nhà đầu tư. Điểm đáng chú ý nằm ở nhóm hành vi bị phạt từ 150-200 triệu đồng. Đây là các vi phạm liên quan trực tiếp đến điều kiện và cách thức tiến hành chào bán, phát hành.
Theo đó, tổ chức phát hành có thể bị phạt nếu chào bán, phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định; thực hiện chào bán, phát hành khi không đáp ứng đủ điều kiện theo Điều 5 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP; không công bố Bản cáo bạch chào bán, phát hành tài sản mã hóa và các tài liệu liên quan theo quy định; hoặc không thực hiện đúng các thông tin đã công bố tại Bản cáo bạch.
Như vậy, nghị định không chỉ xử phạt việc cung cấp thông tin sai lệch mà còn xử lí cả trường hợp tổ chức phát hành không tuân thủ những thông tin đã công bố trong Bản cáo bạch.
Với một số hành vi, chế tài còn vượt ra ngoài tiền phạt. Hành vi cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời gây hiểu nhầm và hành vi không thực hiện đúng thông tin công bố tại Bản cáo bạch có thể bị đình chỉ hoạt động chào bán, phát hành từ 3-6 tháng.
Trong khi đó, các hành vi chào bán, phát hành cho sai đối tượng; chào bán, phát hành khi chưa đáp ứng đủ điều kiện; hoặc không công bố Bản cáo bạch và tài liệu liên quan có thể bị đình chỉ từ 6-12 tháng.
Đặc biệt, đối với ba hành vi chào bán, phát hành tài sản mã hóa cho đối tượng không đúng quy định; chào bán, phát hành tài sản mã hóa khi không đáp ứng đủ điều kiện; không công bố thông tin Báo cáo bạch chào bán, phát hành tài sản mã hóa và các tài liệu khác có liên quan trên trang thông tin điện tử của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, trang thông tin điện tử của tổ chức phát hành, chế tài còn bao gồm biện pháp khắc phục hậu quả là buộc hủy bỏ đợt chào bán, phát hành tài sản mã hóa và buộc trả lại toàn bộ số tiền thu được từ đợt chào bán, phát hành.
Đối với hành vi cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời gây hiểu nhầm, tổ chức phát hành còn bị buộc cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ.
Chưa có giấy phép thì không được cung cấp dịch vụ
Điều 7 về “Vi phạm quy định về tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa” tập trung vào các vi phạm liên quan đến tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa và hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Một nghĩa vụ được đặt ra ngay từ thời điểm được cấp phép là công bố thông tin về ngày chính thức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa.
Tổ chức đăng ký cung cấp dịch vụ bị phạt từ 70-100 triệu đồng nếu không thực hiện việc công bố theo quy định trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính và trên một tờ báo điện tử hoặc báo in trong 3 số liên tiếp, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ thời điểm Bộ Tài chính cấp giấy phép.
Đối với tổ chức đã bị thu hồi Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, nghị định quy định mức phạt từ 100-150 triệu đồng nếu không chấm dứt ngay các hoạt động ghi trong giấy phép; không thông báo về việc chấm dứt hoạt động theo quy định; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn việc tất toán tài sản của khách hàng; hoặc không báo cáo Bộ Tài chính sau khi hoàn thành nghĩa vụ tất toán tài sản.
Ở mức 150-180 triệu đồng, tổ chức cung cấp dịch vụ có thể bị xử phạt nếu không nộp hồ sơ điều chỉnh giấy phép khi có những thay đổi thuộc các thông tin được nghị định liệt kê, như tên công ty, địa chỉ trụ sở chính, vốn điều lệ, người đại diện theo pháp luật hoặc thông tin, chức danh của người đại diện theo pháp luật.
Mức phạt 180-200 triệu đồng được áp dụng đối với hai nhóm hành vi đáng chú ý: cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép và quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép.
Với hành vi hoạt động không đúng nội dung giấy phép, tổ chức còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép từ 1-3 tháng. Còn trường hợp cung cấp dịch vụ khi chưa được cấp giấy phép có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Nghị định đồng thời quy định các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng. Tổ chức vi phạm có thể phải nộp lại số lợi bất hợp pháp; gỡ bỏ trang thông tin điện tử, phần mềm, hệ thống giao dịch và thiết bị được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm.
Đối với hành vi cung cấp dịch vụ khi chưa được cấp phép, nếu tang vật hoặc phương tiện vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái pháp luật thì có thể bị buộc nộp lại số tiền bằng giá trị của tang vật, phương tiện đó. Trường hợp quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép còn có thể bị buộc hủy bỏ, cải chính thông tin.
Nhìn tổng thể, Điều 6 và Điều 7 thiết kế chế tài theo nhiều tầng: từ phạt tiền đối với các vi phạm về thông tin, công bố và thủ tục, đến đình chỉ hoạt động hoặc tước quyền sử dụng giấy phép đối với những hành vi nghiêm trọng hơn. Đáng chú ý, đối với một số vi phạm trong chào bán, phát hành, hậu quả pháp lí không chỉ là tiền phạt mà còn có thể bao gồm hủy bỏ đợt chào bán, phát hành và hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu được.
.jpg)
