Sau đột quỵ, bệnh nhân đối mặt với 'cơn ác mộng' bàng quang
Thoát khỏi cơn nguy kịch do đột quỵ, nhiều bệnh nhân lại phải chịu đựng tình trạng tiểu gấp, són tiểu, bàng quang mất kiểm soát – một di chứng dễ bị bỏ quên.
Sau những giờ phút căng thẳng giành lại sự sống từ tay tử thần, nhiều bệnh nhân đột quỵ não phải đối mặt với một di chứng âm thầm nhưng tàn nhẫn: hội chứng bàng quang mất kiểm soát. Tình trạng tiểu gấp, tiểu nhiều lần và són tiểu không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống mà còn là rào cản lớn trong hành trình phục hồi chức năng của người bệnh.
Di chứng âm thầm cản trở hành trình hồi phục sau đột quỵ
Trong giai đoạn cấp cứu đột quỵ, các bác sĩ thường tập trung tối đa vào việc tái thông mạch máu, cứu sống nhu mô não và phục hồi vận động. Tuy nhiên, theo PGS.TS Đỗ Đào Vũ – Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Bạch Mai, có đến 28% - 79% bệnh nhân gặp phải tình trạng rối loạn đường tiểu dưới sau biến cố này. Ngay khi nhập viện, khoảng một nửa số người bệnh đã xuất hiện triệu chứng tiểu không tự chủ và tỉ lệ này có xu hướng tăng cao hơn trong tháng đầu tiên.

“Hội chứng bàng quang tăng hoạt (OAB) là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến hiện tượng này, biểu hiện qua những cơn buồn tiểu đột ngột, khó nhịn, kèm theo tiểu đêm liên tục. Đối với người có thể trạng yếu sau đột quỵ, di chứng này tạo ra một vòng xoắn bệnh lí cực kì đáng ngại. Sự bất tiện trong bài tiết khiến người bệnh nảy sinh tâm lí mặc cảm, tự ti, từ đó né tránh các bài tập vật lí trị liệu”, PGS.TS Đỗ Đào Vũ chia sẻ.
Không dừng lại ở khía cạnh tâm lí, việc bàng quang mất kiểm soát dẫn đến tình trạng ẩm ướt kéo dài, làm tăng tối đa nguy cơ loét tì đè, tổn thương da và nhiễm trùng đường tiết niệu. Áp lực phải di chuyển gấp vào nhà vệ sinh khi chân tay còn yếu cũng là nguyên nhân hàng đầu gây té ngã chấn thương, vô tình kéo dài thời gian nằm viện và đè nặng áp lực chăm sóc lên vai gia đình.
Phân tích của PGS.TS Đỗ Đào Vũ cho thấy, một sai lầm phổ biến trong thực tế lâm sàng và chăm sóc tại nhà là đánh đồng mọi ca tiểu không tự chủ sau đột quỵ đều do bàng quang tăng hoạt. Trên thực tế, người bệnh có thể bị bí tiểu hoặc tiểu tràn đầy do cơ bàng quang bị giảm hoạt hoặc tắc nghẽn đường tiểu từ trước. Nếu tự ý sử dụng các loại thuốc ức chế bàng quang trong trường hợp này, hệ lụy sẽ vô cùng nghiêm trọng khi tình trạng bí tiểu chuyển biến nặng hơn.
Bên cạnh đó, nhiều trường hợp thực chất là tiểu không tự chủ chức năng. Nghĩa là bàng quang của người bệnh hoàn toàn bình thường, nhưng do bị liệt vận động, rối loạn ngôn ngữ hoặc suy giảm nhận thức nên họ không thể di chuyển kịp thời vào nhà vệ sinh hoặc không thể diễn đạt nhu cầu cho người nhà biết. Ngoài ra, các bệnh lí nền sẵn có như phì đại tiền liệt tuyến ở nam giới lớn tuổi cũng là yếu tố gây nhiễu cần bóc tách.
“Việc chẩn đoán chính xác nguyên nhân gốc rễ là nguyên tắc tối thượng trước khi đưa ra bất kì phác đồ điều trị nào. Các bác sĩ cần khai thác kĩ tiền sử bệnh, đo lượng nước tiểu tồn dư sau khi đi tiểu (PVR), kết hợp theo dõi nhật ký đi tiểu từ 48 đến 72 giờ của bệnh nhân để định lượng chính xác mức độ tổn thương”, PGS.TS Đỗ Đào Vũ cho biết.
Giải pháp điều trị cá thể hóa kết hợp y học đa chuyên khoa
Theo các chuyên gia y tế, việc điều trị bàng quang mất kiểm soát sau đột quỵ đòi hỏi một chiến lược cá thể hóa toàn diện, tuyệt đối không có một công thức chung cho mọi ca bệnh. Các biện pháp can thiệp không dùng thuốc luôn được ưu tiên hàng đầu ở giai đoạn đầu. Người nhà cần được hướng dẫn cách xây dựng lịch đi tiểu chủ động cho bệnh nhân, điều tiết lượng nước uống, cắt giảm caffeine, kiểm soát tình trạng táo bón và kết hợp các bài tập sàn chậu phù hợp với thể trạng.
Khi các giải pháp bảo tồn không mang lại hiệu quả mong muốn, việc can thiệp bằng dược phẩm sẽ được cân nhắc. Do đặc thù bệnh nhân đột quỵ thường lớn tuổi và phải uống nhiều loại thuốc cùng lúc, các bác sĩ ưu tiên lựa chọn những nhóm thuốc thế hệ mới như mirabegron (thuốc chủ vận thụ thể beta-3). Nhóm thuốc này giúp làm giãn cơ bàng quang hiệu quả trong giai đoạn chứa nước tiểu mà không gây ra các tác dụng phụ kháng cholinergic nguy hiểm cho hệ thần kinh trung ương. Dù vậy, quá trình dùng thuốc vẫn cần giám sát chặt chẽ các chỉ số về huyết áp, nhịp tim và nước tiểu tồn dư.
Đối với những ca bệnh phức tạp hoặc kháng thuốc, nền y học hiện đại đã có thêm các vũ khí chuyên sâu như tiêm botulinum toxin trực tiếp vào cơ bàng quang hoặc áp dụng các phương pháp kích thích thần kinh công nghệ cao.
Phân tích sâu hơn về vấn đề này, PGS.TS Đỗ Đào Vũ khẳng định, công tác chăm sóc và phục hồi cho bệnh nhân sau đột quỵ đòi hỏi một tư duy toàn diện. Chúng ta không thể chỉ tập trung vào việc giúp người bệnh đi lại được, mà phải chú trọng đến năng lực tự chăm sóc thiết yếu, đặc biệt là khả năng kiểm soát đại tiểu tiện để họ tự tin tái hòa nhập cộng đồng. Đây cũng là lí do vì sao trong chương trình đào tạo nhân lực y tế hiện nay, vai trò của điều dưỡng và kĩ thuật viên phục hồi chức năng luôn được đề cao, bởi họ chính là những người sát cánh bên bệnh nhân, kịp thời phát hiện và xử trí những rối loạn tế nhị nhưng hệ trọng này.
Rõ ràng, quản lí bàng quang phải được xem là một mắt xích không thể tách rời trong phác đồ phục hồi sau đột quỵ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa: Đột quỵ, Phục hồi chức năng, Tiết niệu thần kinh và Điều dưỡng sẽ giúp người bệnh không phải âm thầm chịu đựng "cơn ác mộng" này, từ đó bảo tồn được phẩm giá và nâng cao chất lượng cuộc sống sau biến cố.




