Sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ: Một thời Thủ Dầu Một - Sài Gòn
Sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ hiện lên qua hơn 140 tên hiệu nghệ nhân, hãng xưởng từng gắn với Thủ Dầu Một - Sài Gòn.
Sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ từng có một đời sống nghề nghiệp rộng hơn cách công chúng thường nhớ về sơn mài qua vài tác phẩm hội họa. Bộ sưu tập Chu tất bình dân do Công ty sách Huyền Đức và nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân sưu tập, phối hợp với Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ giới thiệu.

Các hiện vật được chọn từ hàng trăm bức tranh sơn mài và vật phẩm mỹ nghệ sơn mài chế tác tại Thủ Dầu Một - Sài Gòn - TP.HCM, chủ yếu trong giai đoạn 1950 - 1990. Vựng tập do nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân thực hiện ghi nhận hơn 140 tên hiệu nghệ nhân và hãng xưởng. Từ đây, người xem có thể hình dung lại một vùng nghề từng có thợ, chủ xưởng, cửa hiệu, khách hàng và thị hiếu riêng.
Sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ từ Thủ Dầu Một đến Sài Gòn
Tên gọi Chu tất bình dân gợi nhiều nghĩa. Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân, “chu” là màu đỏ, “tất” là cây sơn. Nhựa cây sơn là nguyên liệu chính để làm đồ sơn. Sau sơ chế, nhựa sơn cho màu đen, màu cánh gián; màu chu, tức đỏ son, là màu tiêu biểu trong bảng màu vật phẩm sơn.
Hai chữ “bình dân” đưa người xem về phía sau bề mặt bóng đẹp của sơn mài. Đó là công việc của người thợ, nghệ nhân, chủ xưởng từng làm ra tranh, khay, hộp, bình phong và nhiều món đồ đi vào đời sống. Sơn mài đòi hỏi nhiều công đoạn: làm vóc, phủ sơn, gắn vật liệu, mài, đánh bóng, sửa chi tiết.
“Chu tất” còn gần với cách hiểu trong tiếng Việt: làm xong công việc, không thiếu sót. Tên gọi này như một lời ghi nhận dành cho những người đã góp phần định hình dòng sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ, nhưng lâu nay ít được gọi tên.

Một vùng nghề từng đông thợ
Vựng tập Sơn mài mỹ nghệ cho biết từ năm 1901, người Pháp mở trường dạy nghề thủ công tại Thủ Dầu Một. Hơn 40 năm sau, vùng đất này mới thật sự hình thành không gian làng nghề sơn mài. Sự phát triển được nhắc rõ từ sau năm 1943, khi hãng sơn mài Thanh Lễ do ông Trương Văn Thanh và ông Nguyễn Thành Lễ sáng lập.
Theo tư liệu được dẫn trong vựng tập, năm 1945, ngoài làng sơn mài Tương Bình Hiệp với hàng trăm hộ gia đình làm nghề, còn có các cơ sở Trần Hà, Văn Thoát, Phát Anh, Lai Leaux, Sông Gianh… thu hút hàng ngàn thợ. Có thời kỳ, 90% hộ gia đình ở Tương Bình Hiệp làm nghề sơn hoặc sơn mài.
Những dữ kiện này cho biết sơn mài không chỉ thuộc về phòng tranh hay bảo tàng. Nó từng là sinh kế của nhiều gia đình, là kỹ năng được truyền trong xưởng thợ, là công việc cụ thể của một vùng nghề. Thủ Dầu Một giữ vai trò nơi sản xuất, còn Sài Gòn là nơi trưng bày, giao dịch và mở rộng khách hàng.
Một mẫu quảng cáo trên tập san Văn Nghệ tháng 11/1951 cho biết Hãng Văn Thoát có phòng giao dịch tại Sài Gòn và xưởng làm tại Gia Định. Nhìn từ trục đó, sơn mài mỹ nghệ Nam Bộ cũng là câu chuyện về một vùng sản xuất thủ công gắn với đời sống đô thị.
Mỹ nghệ dưới góc nhìn tư liệu
Trong cách nhìn phổ biến, sơn mài Việt Nam thường được nhắc tới trước hết như một loại hình hội họa. Nhánh mỹ nghệ ít được bàn kỹ hơn, vì gần với sản xuất thủ công và đời sống gia dụng. Bộ sưu tập Chu tất bình dân đặt lại vị trí của phần di sản này.
Nhà nghiên cứu mỹ thuật, giám tuyển Lý Đợi cho rằng việc tập hợp tranh sơn mài và vật phẩm mỹ nghệ theo lối truyền thống Nam Bộ, làm ra trong khoảng 1950 - 1990, giúp hiện ra hơn 140 tên hiệu nghệ nhân, hãng xưởng ở Thủ Dầu Một - Bình Dương và Sài Gòn - TP.HCM. Ông cũng nhận xét đồ mỹ nghệ lâu nay ít được đối xử bằng cái nhìn trân trọng của nghiên cứu và phê bình.
Một khay sơn mài, một tấm bình phong, một hộp cẩn ốc hay một bức tranh trang trí đều có khả năng kể chuyện. Chúng cho biết kỹ thuật, thị hiếu, đề tài, địa chỉ cửa hiệu, quan hệ giữa thợ, xưởng, vùng nghề và đô thị. Khi được đặt vào bối cảnh nghiên cứu, đồ mỹ nghệ là tư liệu văn hóa có giá trị riêng.

Kỹ thuật trên nền vóc và màu
Vựng tập phân các sản phẩm sơn mài thành sáu nhóm kỹ thuật chính: vẽ phủ mài, vẽ nổi, khắc trũng, cẩn trứng, cẩn ốc và cẩn phù điêu. Các kỹ thuật này dùng nền vóc, sơn, màu, vàng quỳ, bạc quỳ, vỏ trứng, ốc xà cừ, ngà, xương, gỗ hoặc sừng.
Sự đa dạng kỹ thuật đi cùng sự đa dạng đề tài. Trong phần tranh mỹ nghệ có trang trí truyền thống, phong cảnh và sinh hoạt đời sống, lịch sử và văn hóa, danh lam thắng cảnh. Những tác phẩm như Đường quê của Lục Ký, Đám cưới của Thành Lễ, các tranh Mai lan cúc trúc, Tứ dân, Cầm kỳ thi họa, Rồng Tiên, Lạc Việt… lưu lại nhiều hình ảnh quen thuộc trong văn hóa Việt.
Bức Đấu vật của Trường Mỹ, cẩn trứng, năm 1987, là một trường hợp có giá trị tư liệu. Vựng tập ghi đây là một trong những tranh chuyển thể từ tranh dân gian trong bộ sưu tập ký họa Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger. Việc chuyển hình ảnh dân gian từ bản vẽ sang sơn mài cho thấy khả năng lưu truyền hình ảnh qua kỹ thuật thủ công.
Khi làng nghề thưa vắng
Vựng tập cũng nêu thực tế nhiều vật phẩm trong bộ sưu tập gần như đã thành đồ cổ, vì không còn được sản xuất hoặc không dễ sản xuất theo cách cũ. Sơn mài mỹ nghệ hiện nay phần lớn không còn dựa vào sơn tự nhiên như trước. Cách làm nhanh, vật liệu mới, mô hình sản xuất thay đổi khiến nhiều nhà thợ nhỏ không còn bám nghề.
Khi một làng nghề thưa vắng, phần mất đi không chỉ là sản phẩm. Đó còn là kinh nghiệm tay nghề, quan hệ giữa thợ và xưởng, ký ức địa phương, cách chọn đề tài, cách xử lý chất liệu và thẩm mỹ của một giai đoạn. Việc ghi lại hơn 140 tên hiệu giúp người xem có thêm căn cứ để nhận diện cộng đồng làm nghề từng tạo ra dòng sản phẩm này.
Từ Chu tất bình dân đến những tác phẩm sơn mài mỹ nghệ, sơn mài Nam Bộ hiện lên như một di sản của đôi bàn tay. Di sản ấy không chỉ được tạo nên bởi những tên tuổi nổi tiếng, mà còn bởi nhiều người thợ, nghệ nhân và các hãng xưởng từng góp phần định hình diện mạo của cả một dòng nghề. Một thời Thủ Dầu Một - Sài Gòn vẫn còn lưu dấu trên từng lớp sơn, nét cẩn ốc, vỏ trứng, đường khắc, màu son và cả những tên hiệu gắn với một thời mưu sinh bằng nghề.



