Quy định mới

Sử dụng trái phép dữ liệu tài khoản tài sản mã hóa sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng

Bùi Tú 02/09/2026 09:44

Theo quy định từ ngày 1/9/2026, việc sử dụng trái phép dữ liệu tài khoản tài sản mã hóa có thể bị phạt đến 200 triệu đồng.

Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 có hiệu lực từ 1/9/2026 quy định riêng chế tài đối với hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, tặng cho, công khai hóa trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa, đồng thời xử lí các hành vi cản trở hoạt động thanh tra, kiểm tra và yêu cầu cung cấp thông tin. Mức phạt cao nhất theo hai điều này lên tới 200 triệu đồng, kèm một số hình thức xử phạt bổ sung.

Sử dụng trái phép dữ liệu tài khoản tài sản mã hóa có thể bị đình chỉ giao dịch

Điều 11 Nghị định 284/2026/NĐ-CP quy định một nhóm hành vi cụ thể liên quan đến dữ liệu và thông tin tài khoản tài sản mã hóa. Theo đó, hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, tặng cho hoặc công khai hóa trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa bị phạt tiền từ 150-200 triệu đồng.

Điểm cần lưu ý là quy định này gắn việc xử phạt với yếu tố “trái phép”. Vì vậy, không thể hiểu mọi hoạt động thu thập, lưu trữ hay trao đổi dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa đều thuộc diện xử phạt. Căn cứ xử phạt theo Điều 11 là hành vi được thực hiện trái phép và thuộc đúng phạm vi mà điều khoản này quy định.

Ngoài phạt tiền, Điều 11 còn quy định đình chỉ hoạt động giao dịch tài sản mã hóa từ 1-3 tháng là hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm tại khoản 1.

Như vậy, chế tài đối với nhóm hành vi này gồm hai tầng. Trước hết là phạt tiền với khung từ 150-200 triệu đồng; bên cạnh đó, tùy trường hợp áp dụng theo quy định, người vi phạm còn có thể chịu hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động giao dịch tài sản mã hóa trong thời hạn từ 1-3 tháng.

Về biện pháp khắc phục hậu quả, Điều 11 quy định buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Quy định này có ý nghĩa khác với hình thức phạt tiền. Phạt tiền là hình thức xử phạt chính được xác định theo khung mà nghị định quy định, còn việc nộp lại số lợi bất hợp pháp là biện pháp khắc phục hậu quả nhằm xử lí khoản lợi có được từ chính hành vi vi phạm.

Cản trở thanh tra, kiểm tra cũng có thể bị đình chỉ dịch vụ

Điều 12 tập trung vào các hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra hoặc không thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin của người có thẩm quyền.

Ở mức phạt 50-100 triệu đồng được quy định tại khoản 1, nghị định xử phạt hành vi từ chối cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử hoặc cung cấp không đúng thời hạn, không đầy đủ, chính xác theo yêu cầu của đoàn thanh tra, kiểm tra hoặc người có thẩm quyền.

Cùng khung phạt này là các hành vi chống đối, cản trở, gây khó khăn hoặc trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra; không giải trình hoặc không đến làm việc theo yêu cầu của người có thẩm quyền. Việc cố ý trì hoãn, trốn tránh, không thi hành quyết định hành chính của người có thẩm quyền hoặc không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kết luận, quyết định xử lí của đoàn thanh tra, kiểm tra hoặc người có thẩm quyền cũng thuộc nhóm này.

Điều khoản này cho thấy nghĩa vụ hợp tác không chỉ dừng ở việc cung cấp hồ sơ. Chủ thể liên quan còn phải thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kết luận và quyết định xử lí thuộc thẩm quyền theo quy định. Việc cố ý trì hoãn hoặc trốn tránh cũng được quy định là hành vi vi phạm.

Mức phạt cao hơn, từ 70-150 triệu đồng được quy định tại khoản 2, áp dụng đối với những hành vi tác động trực tiếp đến chứng từ, tài liệu, sổ sách, dữ liệu điện tử hoặc tang vật trong quá trình thanh tra, kiểm tra.

Cụ thể, nghị định xử phạt hành vi che giấu, sửa chữa chứng từ, tài liệu, sổ sách, dữ liệu điện tử hoặc làm thay đổi tang vật trong khi đang bị thanh tra, kiểm tra.

Ngoài ra, việc tự ý tháo bỏ, tẩu tán hoặc có hành vi khác làm thay đổi tình trạng sổ sách, hồ sơ, chứng từ kế toán hoặc tang vật, phương tiện bị niêm phong; chiếm đoạt hoặc tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra cũng thuộc nhóm bị phạt từ 70-150 triệu đồng.

Điều 12 còn quy định hình thức xử phạt bổ sung đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Nếu tổ chức này thực hiện hành vi vi phạm thuộc khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 12, có thể bị đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa từ 1-3 tháng.

Riêng đối với hành vi thuộc khoản 2, chứng từ, tài liệu, sổ sách, dữ liệu điện tử là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có thể bị tịch thu theo quy định về hình thức xử phạt bổ sung.

Như vậy, Điều 11 và Điều 12 điều chỉnh hai nhóm hành vi khác nhau. Điều 11 tập trung vào việc sử dụng trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa, với mức phạt tối đa 200 triệu đồng và khả năng đình chỉ hoạt động giao dịch. Điều 12 tập trung vào nghĩa vụ chấp hành thanh tra, kiểm tra và cung cấp thông tin, với mức phạt tối đa 150 triệu đồng đối với các hành vi được quy định tại khoản 2.

Đối với cả hai điều, việc áp dụng chế tài phải căn cứ vào đúng hành vi, chủ thể và điều kiện được quy định trong từng khoản, điểm, không nên suy rộng phạm vi xử phạt ngoài những hành vi mà Nghị định 284/2026/NĐ-CP đã quy định.

Nổi bật
      Mới nhất
      Sử dụng trái phép dữ liệu tài khoản tài sản mã hóa sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO