Tài sản mã hóa

Tài sản mã hóa có thể mở thêm cơ hội vốn cho doanh nghiệp Việt Nam

Bùi Tú 16/09/2026 06:30

Tài sản mã hóa được kì vọng có thể trở thành một cấu phần mới trong hệ thống tài chính, giúp kết nối tài sản kinh tế với nguồn vốn mà các kênh truyền thống chưa khai thác hết.

Dù vậy, theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh (giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam) trao đổi riêng với Tạp chí Một Thế Giới, không nên nhìn tài sản mã hóa như một phương án thay thế tín dụng ngân hàng hay thị trường chứng khoán. Cơ hội lớn hơn nằm ở khả năng tạo ra một cấu trúc huy động vốn bổ trợ, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu và những tài sản có giá trị nhưng lâu nay khó tiếp cận nhà đầu tư.

TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Tài sản mã hóa không phải “đối thủ” của ngân hàng hay chứng khoán

Khi nói về vai trò của tài sản mã hóa trong hệ thống tài chính Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh cho rằng cần thận trọng với cách diễn giải rằng đây sẽ là một kênh thay thế tín dụng ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán.

“Tôi sẽ thận trọng khi mô tả tài sản mã hóa là phương án thay thế cho hoạt động cho vay ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán. Vai trò đáng chú ý hơn của tài sản mã hóa là trở thành một cấu trúc huy động vốn bổ trợ”, ông nói.

Theo chuyên gia, cách nhìn này quan trọng bởi hệ thống tài chính Việt Nam hiện vẫn tương đối phụ thuộc vào ngân hàng. Trong khi đó, không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng tiếp cận tín dụng một cách thuận lợi.

Đặc biệt, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn khi họ thiếu tài sản thế chấp truyền thống, chưa có lịch sử tín dụng đủ dài hoặc chưa sở hữu hồ sơ tài chính đủ mạnh. Một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt, có đơn hàng và khả năng tạo dòng tiền trong tương lai nhưng thiếu tài sản hữu hình để bảo đảm khoản vay vẫn có thể gặp trở ngại khi tìm kiếm nguồn vốn. Điều này tạo ra một khoảng trống mà những cấu trúc tài chính mới có thể hướng tới.

Thay vì đặt tài sản mã hóa đối lập với ngân hàng và chứng khoán, có thể xem đây là một lớp hạ tầng bổ sung, giúp những giá trị kinh tế phù hợp được số hóa, chia nhỏ và kết nối với nhà đầu tư theo cách minh bạch hơn.

Nói cách khác, câu hỏi quan trọng không phải là tài sản mã hóa có thể “đánh bại” ngân hàng hay thị trường chứng khoán hay không, mà là nó có thể giúp hệ thống tài chính huy động được những nguồn vốn mà các kênh hiện tại chưa khai thác hết hay không.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, đây mới là tiềm năng đáng chú ý nhất. Nếu một tài sản hoặc quyền lợi kinh tế đủ điều kiện có thể được xác minh, số hóa và đưa vào một cấu trúc đầu tư minh bạch, doanh nghiệp có thêm khả năng tiếp cận vốn mà không nhất thiết phải phụ thuộc hoàn toàn vào mô hình vay dựa trên tài sản thế chấp.

Tuy nhiên, đây mới là tiềm năng dài hạn. Để biến tiềm năng thành một kênh vốn thực tế, yếu tố quyết định vẫn là khuôn khổ pháp lí, chất lượng tài sản cơ sở, khả năng xác minh quyền sở hữu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.

“Khoảng trống” vốn lưu động của doanh nghiệp xuất khẩu

Một vấn đề khác mà tài sản mã hóa có thể góp phần giải quyết nằm ở vốn lưu động, đặc biệt với những doanh nghiệp tham gia chuỗi xuất khẩu và cung ứng.

Đây là bài toán rất quen thuộc với doanh nghiệp Việt Nam. Một nhà cung cấp có thể phải bỏ vốn để mua nguyên liệu, sản xuất hàng hóa, duy trì tồn kho và thanh toán chi phí logistics trước khi nhận được tiền từ khách hàng. Khoảng thời gian giữa lúc tiền được chi ra và lúc tiền quay trở lại tạo ra áp lực lớn lên dòng tiền.

Đối với doanh nghiệp lớn, khoảng trống này có thể được bù đắp bằng hạn mức tín dụng hoặc các công cụ tài chính khác. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn thường hạn chế hơn.

Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh cho rằng đây là một trong những lĩnh vực mà token hóa có thể phát huy giá trị trong tương lai. “Các nhà cung cấp Việt Nam thường cần vốn để sản xuất, dự trữ hàng hóa và logistics trước khi nhận được thanh toán từ người mua. Điều này tạo áp lực dòng tiền, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn ngắn hạn”, ông phân tích.

Trong trường hợp phù hợp với quy định pháp luật, doanh nghiệp có thể số hóa những tài sản thực đủ điều kiện hoặc các quyền lợi kinh tế gắn với tài sản đó. Khi được thiết kế minh bạch, những tài sản này có khả năng trở nên dễ xác minh và tiếp cận với một nhóm nhà đầu tư rộng hơn. Đây chính là ý tưởng phía sau token hóa tài sản thực.

Thay vì chỉ dựa vào khả năng vay vốn của doanh nghiệp, cấu trúc tài chính có thể hướng tới chính những tài sản hoặc dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế. Với một nền kinh tế có hoạt động xuất khẩu lớn như Việt Nam, cách tiếp cận này mở ra khả năng hình thành những cấu trúc tài chính gắn với hàng hóa, dòng chảy thương mại và chuỗi cung ứng.

“Đối với một nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Việt Nam, điều này về lâu dài có thể hỗ trợ các cấu trúc tài chính gắn với tài sản thực, dòng chảy thương mại và chuỗi cung ứng, thay vì chỉ dựa vào hoạt động cho vay dựa trên tài sản thế chấp truyền thống”, ông Nguyễn Nhật Minh nhận định.

Tất nhiên, token hóa không có nghĩa doanh nghiệp có thể biến bất kì tài sản nào thành một công cụ huy động vốn. Giá trị của mô hình phụ thuộc rất lớn vào việc tài sản cơ sở có thực sự tồn tại hay không, quyền lợi kinh tế có rõ ràng hay không và nhà đầu tư có được bảo vệ hay không.

Nếu những điều kiện đó được đáp ứng, token hóa có thể giúp đưa những giá trị kinh tế vốn khó chia nhỏ hoặc khó tiếp cận nhà đầu tư vào một cấu trúc tài chính dễ tiếp cận hơn.

Đây là điểm đặc biệt đáng chú ý đối với các doanh nghiệp nhỏ, bởi vấn đề của họ đôi khi không phải không có tài sản hay hoạt động kinh doanh, mà là tài sản và dòng tiền chưa được cấu trúc theo cách mà thị trường vốn có thể dễ dàng tiếp nhận.

Cơ hội kết nối tài sản Việt Nam với dòng vốn quốc tế

Ngoài bài toán vốn lưu động, một khoảng trống khác là khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn và vốn quốc tế. Việt Nam đang cần nguồn vốn lớn cho cơ sở hạ tầng, công nghệ, logistics và chuyển đổi xanh. Đây đều là những lĩnh vực cần nguồn vốn dài hạn, trong khi khả năng đáp ứng của từng kênh tài chính có giới hạn nhất định.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn giữ vai trò trung tâm, nhưng hạ tầng tài sản số có thể tạo thêm một cơ chế kết nối các tài sản phù hợp của Việt Nam với những nguồn vốn quốc tế chuyên biệt.

“Việt Nam có nhu cầu vốn lớn trong các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, công nghệ, logistics và chuyển đổi xanh. Ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn sẽ đóng vai trò trung tâm, nhưng hạ tầng tài sản số có thể tạo thêm một cơ chế kết nối các tài sản phù hợp của Việt Nam với những nguồn vốn quốc tế chuyên biệt”, ông nói.

Tuy nhiên, chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng cần phân biệt rất rõ giữa tiềm năng của tài sản mã hóa trong tương lai và khả năng thực tế của chương trình thí điểm hiện nay.

Theo ông, trong khuôn khổ Nghị quyết 05, tài sản mã hóa mới phát hành phải được bảo chứng bằng tài sản thực, ngoại trừ chứng khoán hoặc tiền pháp định. Trong giai đoạn đầu, việc chào bán cũng chỉ hướng tới nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, chưa nên xem đây là một kênh huy động vốn thay thế dành cho tất cả doanh nghiệp Việt Nam.

“Ở giai đoạn này, tôi cho rằng sáng kiến này nên được nhìn nhận ít hơn như một kênh huy động vốn thay thế cho tất cả doanh nghiệp Việt Nam và nhiều hơn như một thử nghiệm nhằm tạo ra một cầu nối mới giữa các tài sản kinh tế của Việt Nam và nguồn vốn quốc tế”, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh nhận định.

Cách tiếp cận này cũng giúp tránh một kì vọng dễ dẫn đến hiểu lầm là cứ đưa tài sản lên blockchain là doanh nghiệp sẽ lập tức có thêm vốn. Công nghệ chỉ là công cụ. Muốn tài sản mã hóa thực sự trở thành một kênh huy động vốn, phía sau token phải là tài sản có giá trị, quyền sở hữu rõ ràng, thông tin minh bạch và cơ chế pháp lí đủ mạnh để bảo vệ các bên tham gia.

Bởi vậy, cơ hội lớn nhất có thể không nằm ở việc tạo ra thêm một công cụ giao dịch, mà nằm ở việc biến những giá trị kinh tế vốn khó huy động vốn thành những tài sản dễ tiếp cận hơn với nhà đầu tư.

“Cơ hội thực sự không chỉ nằm ở việc tạo thêm một công cụ giao dịch. Đó là làm cho những giá trị kinh tế hiện đang khó huy động vốn, khó phân chia hoặc khó kết nối với nhà đầu tư trở nên dễ tiếp cận nguồn vốn hơn”, ông Nguyễn Nhật Minh nhấn mạnh.

Đối với Việt Nam, điều này có thể đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu và các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng.

Nhìn theo hướng đó, tài sản mã hóa không nhất thiết phải trở thành “đối thủ” của ngân hàng hay chứng khoán. Giá trị của nó có thể nằm ở một vai trò khác: mở thêm một lớp kết nối giữa tài sản thực của nền kinh tế và nguồn vốn trong nước, quốc tế.

Đây cũng là lí do việc phát triển thị trường tài sản mã hóa cần được nhìn nhận với sự kì vọng nhưng không nên quá nóng vội. Nếu khuôn khổ pháp lí, công nghệ và cơ chế giám sát được xây dựng phù hợp, công cụ này có thể từng bước bổ sung những mảnh ghép còn thiếu cho hệ thống huy động vốn của Việt Nam.

Nổi bật
      Mới nhất
      Tài sản mã hóa có thể mở thêm cơ hội vốn cho doanh nghiệp Việt Nam
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO