Tài sản mã hóa

Tài sản mã hóa đã có 'mã' riêng trong ngân sách Nhà nước

Bùi Tú 28/08/2026 18:16

Việc Bộ Tài chính bổ sung các tiểu mục riêng để hạch toán thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền chậm nộp từ hoạt động tài sản mã hóa cho thấy thị trường này đang được đưa ngày càng sâu vào hệ thống quản lí tài chính.

Tài sản mã hóa
Bộ Tài chính vừa ban hành quy định mới liên quan tài sản mã hóa

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 123/2026/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 130/2025/TT-BTC về Hệ thống Mục lục ngân sách Nhà nước. Thông tư có hiệu lực ngay từ ngày ban hành 21/8.

Giữa hàng loạt nội dung được điều chỉnh, đáng chú ý là lần đầu tiên các khoản thuế phát sinh từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa được tách thành những tiểu mục riêng trong hệ thống hạch toán ngân sách.

Cụ thể, Tiểu mục 1016 “Thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa” được bổ sung vào Mục 1000 về thuế thu nhập cá nhân. Tiểu mục 1059 “Thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa” cũng được bổ sung vào Mục 1050 về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Không chỉ tiền thuế, các khoản tiền chậm nộp cũng được bóc tách. Tiểu mục 4954 dành cho tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân từ giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa và Tiểu mục 4955 dành cho tiền chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động này.

Đồng thời, nội dung Tiểu mục 4917 về tiền chậm nộp thuế thu nhập cá nhân và Tiểu mục 4918 về tiền chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được điều chỉnh theo hướng loại trừ phần phát sinh từ tài sản mã hóa để ghi nhận tại các tiểu mục mới.

Từ mức thuế 0,1% đến những “mã” thu ngân sách riêng

Điều đáng chú ý là Thông tư 123 không tạo ra một sắc thuế mới đối với Bitcoin hay các loại tài sản mã hóa. Những nghĩa vụ thuế cơ bản đối với hoạt động này đã được hình thành từ trước, còn thông tư mới chủ yếu làm rõ cách hạch toán các khoản thu vào ngân sách.

Nền móng được đặt ra từ Nghị quyết 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam trong thời gian 5 năm. Nghị quyết đưa tài sản mã hóa vào một khuôn khổ quản lí chính thức, đồng thời giao Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách thuế đối với thị trường.

Ngày 27/3/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 32/2026/TT-BTC, quy định cụ thể về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động giao dịch, chuyển nhượng, kinh doanh tài sản mã hóa.

Theo đó, hoạt động chuyển nhượng và kinh doanh tài sản mã hóa thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng. Với cá nhân, bất kể cư trú hay không cư trú, thuế thu nhập cá nhân được xác định ở mức 0,1% trên giá chuyển nhượng của từng lần giao dịch.

Đối với tổ chức trong nước, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản mã hóa chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 20% trên thu nhập chịu thuế. Trong khi đó, tổ chức nước ngoài chuyển nhượng tài sản mã hóa tại Việt Nam thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ chịu mức thu 0,1% trên doanh thu của từng lần chuyển nhượng.

Chỉ hơn một tuần sau, ngày 6/4, Thông tư 41/2026/TT-BTC tiếp tục hướng dẫn việc kê khai, khấu trừ, nộp và quyết toán thuế trên thị trường tài sản mã hóa.

Đến tháng 5, Bộ Tài chính công bố các thủ tục hành chính phục vụ cơ chế này. Với cá nhân, tổ chức nước ngoài có thu nhập từ chuyển nhượng tài sản mã hóa, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trách nhiệm tổng hợp giao dịch, xác định số thuế phải khấu trừ, khai thay và nộp thay cho người nộp thuế. Hồ sơ được thực hiện bằng phương thức điện tử.

Nếu Thông tư 32 xác định thuế phải tính như thế nào, Thông tư 41 xác định thuế được kê khai và nộp ra sao, thì Thông tư 123 đang hoàn thiện thêm một mắt xích khác: khoản thu đó được ghi nhận và theo dõi trong ngân sách như thế nào.

Nhà nước bắt đầu “đo” riêng dòng tiền từ tài sản mã hóa

Việc một nguồn thu có tiểu mục riêng không chỉ là thay đổi thuần kĩ thuật trong hệ thống kế toán ngân sách. Nó cho phép cơ quan quản lí nhận diện và theo dõi khoản thu đó độc lập thay vì để chung trong các nhóm thuế thu nhập rộng hơn.

Điều này đặc biệt đáng chú ý với tài sản mã hóa, bởi quy mô giao dịch có thể biến động mạnh và hoạt động trên thị trường có đặc thù khác với nhiều loại tài sản truyền thống.

Khi thị trường vận hành và phát sinh số thu thực tế, hệ thống ngân sách sẽ có khả năng bóc tách rõ hơn bao nhiêu thuế thu nhập cá nhân đến từ giao dịch tài sản mã hóa, bao nhiêu thuế thu nhập doanh nghiệp đến từ lĩnh vực này và bao nhiêu tiền chậm nộp phát sinh tương ứng.

Nói cách khác, Nhà nước không chỉ đặt ra nghĩa vụ thuế mà còn đang xây dựng hệ thống để đo lường riêng nguồn thu từ một thị trường mới.

Cấu trúc thị trường được Việt Nam lựa chọn cũng tạo điều kiện cho quá trình quản lí tập trung hơn. Theo Nghị quyết 05, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công an và Ngân hàng Nhà nước lựa chọn tối đa 5 tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Doanh nghiệp muốn được cấp phép tổ chức thị trường phải có vốn điều lệ đã góp tối thiểu 10.000 tỷ đồng bằng đồng Việt Nam.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước bắt đầu tiếp nhận hồ sơ cấp phép từ ngày 20/1/2026. Quá trình xem xét hồ sơ có sự phối hợp giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công an.

Khung quản lí cũng đang tiếp tục hoàn thiện ở phía chế tài. Chính phủ đã ban hành Nghị định 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7 về xử phạt vi phạm hành chính đối với tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa, có hiệu lực từ ngày 1/9/2026.

Như vậy, trong chưa đầy một năm, tài sản mã hóa tại Việt Nam đã lần lượt đi qua nhiều lớp quản lí: từ khuôn khổ thí điểm vào tháng 9/2025, thủ tục cấp phép đầu năm 2026, chính sách thuế vào tháng 3, cơ chế kê khai và khấu trừ vào tháng 4, chế tài xử phạt vào tháng 7, đến hệ thống mã thu ngân sách riêng vào tháng 8.

Đây có lẽ là dấu hiệu rõ hơn cả cho thấy tài sản mã hóa đang chuyển từ một lĩnh vực cần “quản lí thử nghiệm” sang một hoạt động mà Nhà nước đã bắt đầu định danh, thu thuế, giám sát và hạch toán bằng những công cụ rất cụ thể.

Nổi bật
      Mới nhất
      Tài sản mã hóa đã có 'mã' riêng trong ngân sách Nhà nước
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO