Thế giới bước vào kỉ nguyên chạy đua vũ trang bằng năng lượng?
Nhà máy lọc dầu và trạm biến áp ngày càng trở thành mục tiêu tấn công, trong khi nhu cầu điện khổng lồ của các trung tâm dữ liệu AI khiến năng lực sản xuất điện trở thành một thước đo mới của sức mạnh quốc gia.
Mùa hè 2026 đưa khí hậu trở lại trang nhất. Nắng nóng kỉ lục tại nhiều khu vực ở châu Âu và miền đông nước Mỹ, cùng cháy rừng, hạn hán và nguy cơ lưới điện quá tải, làm sống lại những lời kêu gọi đẩy nhanh quá trình giảm phát thải. Tuy nhiên, trong một bài đăng trên tạp chí National Interest, giáo sư danh dự Boaz Golany của Viện Công nghệ Technion (Israel) chỉ ra rằng an ninh quốc gia đang nổi lên như một lực đẩy mới của chính sách năng lượng.

Năng lượng chưa bao giờ nằm ngoài tính toán quân sự
Ông Golany nhắc lại cuộc tiến công của Đức Quốc xã về phía nam Liên Xô năm 1942, với mục tiêu quan trọng là các mỏ dầu ở Kavkaz. Stalingrad sau đó trở thành chiến trường then chốt để bảo vệ sườn tiến công và kiểm soát tuyến vận tải trên sông Volga. Khác biệt của thời đại hiện nay nằm ở chỗ khác. Hạ tầng năng lượng không còn chỉ đóng vai trò hậu cần. Nó đã trở thành mục tiêu trực tiếp.
Nga tấn công nhà máy điện, mạng truyền tải, kho nhiên liệu và cơ sở lọc dầu của Ukraine nhằm bào mòn cả năng lực tác chiến lẫn sức chịu đựng của xã hội. Ukraine đáp trả bằng những đòn đánh sâu vào các cơ sở dầu khí Nga nằm cách xa tiền tuyến.
Phân tích của CNN ngày 25/6 cho biết Ukraine đã tiến hành hơn 300 vụ tập kích nhằm vào các cơ sở dầu khí Nga kể từ ngày 24/2/2022. Năm đầu tiên chỉ ghi nhận ba vụ, năm thứ hai có thêm 13 vụ, chiến dịch đánh sâu được mở rộng rõ rệt từ đầu năm 2024. BBC Verify thống kê 21 trong số 38 nhà máy lọc dầu lớn của Nga đã bị tấn công kể từ tháng 1/2025.
Tính đến tháng 8/2025, Bộ Năng lượng Ukraine cho biết các cơ sở năng lượng nước này đã hứng hơn 2.900 đợt tập kích kể từ tháng 3 cùng năm. Rạng sáng 7/2/2026, Reuters dẫn lời Tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết Nga phóng hơn 400 UAV cùng khoảng 40 tên lửa nhằm vào nguồn phát, lưới truyền tải và các trạm phân phối điện.
Vụ phá hoại Nord Stream, hệ thống đường ống dẫn khí đốt từ Nga sang Đức qua Biển Baltic, càng củng cố nhận thức rằng đường ống, kho LNG, trạm biến áp, cảng và mạng điện có giá trị không kém sân bay hay quân cảng, nhưng lại phân tán và dễ bị tổn thương hơn nhiều, kể cả khi nằm cách chiến tuyến hàng trăm kilomet.
Hormuz và giới hạn vô hình của leo thang
Giáo sư Golany còn đưa ra một lập luận ít được nhắc đến, theo đó năng lượng không chỉ mở rộng phạm vi chiến trường mà còn tạo ra những giới hạn đối với mức độ leo thang.
Ông lấy cuộc đối đầu với Iran làm ví dụ. Washington tuyên bố mục tiêu là ngăn Tehran sở hữu vũ khí hạt nhân, chứ không nhằm gây khó khăn lâu dài cho người dân Iran. Tuy nhiên, phía sau còn có một tính toán khác. Nếu sức ép trong nước cuối cùng làm suy yếu chính quyền hiện tại, việc phá hủy toàn bộ hạ tầng xuất khẩu dầu cũng đồng nghĩa với xóa bỏ nguồn lực mà một chính phủ Iran trong tương lai sẽ cần để tái thiết đất nước.
Bất kì đòn đánh quy mô lớn nào vào các cảng dầu hoặc cơ sở xuất khẩu của Iran cũng có nguy cơ đẩy giá năng lượng toàn cầu tăng mạnh, khiến nền kinh tế đồng minh chịu tổn thất và làm quan hệ với Trung Quốc, khách hàng dầu mỏ quan trọng của Tehran, trở nên phức tạp hơn.
Eo biển Hormuz cho thấy rõ sức mạnh của một điểm nghẽn năng lượng. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, khoảng 20,9 triệu thùng dầu mỗi ngày đã đi qua tuyến hàng hải này trong nửa đầu năm 2025, tương đương gần một phần năm lượng tiêu thụ chất lỏng dầu mỏ toàn cầu. Năm 2024, khoảng một phần năm thương mại khí tự nhiên hóa lỏng của thế giới cũng đi qua Hormuz, phần lớn đến từ Qatar.
Chỉ cần nguy cơ tuyến hàng hải này bị gián đoạn gia tăng, giá dầu, phí bảo hiểm và chi phí vận tải đã có thể phản ứng trước khi một cuộc phong tỏa hoàn toàn xảy ra. Bên khai hỏa vì thế không thể chỉ tính toán thiệt hại trực tiếp gây ra cho đối phương. Họ còn phải cân nhắc tác động ngược đối với đồng minh, thị trường trong nước và toàn bộ mạng lưới thương mại toàn cầu.
Sự kiềm chế của một bên cũng không đủ để giữ thị trường ổn định. Một lực lượng yếu hơn vẫn có thể gây sức ép bằng thủy lôi, tên lửa chống hạm, UAV, những cuộc tấn công hạn chế hoặc đơn giản là duy trì mức độ bất định đủ lớn để khiến tàu hàng tránh xa khu vực.
Tiêu chí thứ tư và bốn câu hỏi kiểm tra
Suốt nhiều thập niên, các chính phủ thường đánh giá chiến lược năng lượng dựa trên ba tiêu chí gồm giá thành, độ tin cậy và tính bền vững về môi trường. Ông Golany cho rằng khả năng chống chịu chiến lược giờ đây đã trở thành tiêu chí thứ tư, đứng ngang hàng với ba yếu tố trên.
Theo chuyên gia Golany, tiêu chí này có thể được kiểm tra bằng bốn câu hỏi. Nguồn phát có tiếp tục vận hành trong thời chiến hay không? Nguồn nhiên liệu có vượt qua được sự gián đoạn của các tuyến hàng hải? Hệ thống truyền dẫn điện có chịu nổi tấn công mạng, UAV hoặc tên lửa? Hạ tầng bị hư hỏng có thể phục hồi đủ nhanh để duy trì hoạt động quân sự và kinh tế?
Ông cũng cảnh báo không nên đẩy lập luận đi quá xa. Điện sẽ không thay thế hoàn toàn dầu. Dầu vẫn giữ vai trò thiết yếu trong vận tải, hàng không và hoạt động cơ động quân sự. Khí tự nhiên vẫn là trụ cột phát điện ở nhiều quốc gia, trong khi than, thủy điện, năng lượng tái tạo và hạt nhân đều tiếp tục giữ những vị trí riêng.
Vấn đề nằm ở khả năng bảo đảm nguồn cung ổn định, bất kể nguồn đầu vào là gì. Sức ép mới đến từ trí tuệ nhân tạo (AI). Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính mức sử dụng điện của các trung tâm dữ liệu có thể tăng từ khoảng 485 TWh năm 2025 lên gần 950 TWh vào năm 2030, tương đương gần 3% nhu cầu toàn cầu. Riêng các cơ sở phục vụ AI được dự báo tiêu thụ năng lượng gấp khoảng ba lần hiện nay.
Đến năm 2030, các trung tâm dữ liệu tại Mỹ có thể sử dụng nhiều điện hơn tổng lượng tiêu thụ của những ngành công nghiệp nặng như nhôm, thép, xi măng và hóa chất. Nút thắt không chỉ nằm ở nguồn phát. Hạ tầng truyền tải đang nổi lên như một trong những điểm nghẽn lớn nhất. IEA cho biết một tuyến truyền tải mới tại các nền kinh tế phát triển thường mất từ bốn đến tám năm để hoàn thành. Khoảng 20% dự án trung tâm dữ liệu đã được lên kế hoạch có nguy cơ chậm tiến độ nếu khả năng kết nối lưới không được cải thiện.
Không có một mô hình chung cho mọi quốc gia. Na Uy dựa chủ yếu vào thủy điện, Israel khai thác khí đốt ngoài khơi, Canada kết hợp thủy điện với hạt nhân và khí tự nhiên, còn Pháp đặt trọng tâm lớn vào điện hạt nhân.
Hai cơ chế, một đích đến
Trung Quốc hiện tiến lên bằng kế hoạch nhà nước, gắn chính sách năng lượng với định hướng công nghiệp và an ninh quốc gia, đồng thời triển khai chương trình mở rộng điện hạt nhân dân sự lớn nhất thế giới.
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cho biết cuối năm 2024 có 62 lò phản ứng, với tổng công suất 64,5 GW, đang được xây dựng tại 15 quốc gia. Riêng Trung Quốc chiếm khoảng 46% phần mở rộng này. Trong kịch bản cao, quy mô điện hạt nhân toàn cầu có thể đạt 992 GW vào năm 2050.
Khoảng cách về quy mô hạ tầng điện đã trở nên rất lớn. Đến cuối tháng 5/2026, tổng nguồn điện lắp đặt của Trung Quốc đã vượt 4.000 GW. Dù phương pháp thống kê giữa các quốc gia không hoàn toàn giống nhau, quy mô và tốc độ mở rộng hệ thống điện Trung Quốc vẫn vượt xa Mỹ.
Riêng trong năm 2025, Trung Quốc bổ sung khoảng 543 GW. BloombergNEF dự báo nước này có thể lắp thêm hơn 3,4 TW trong vòng năm năm, gần gấp sáu lần mức tăng dự kiến của Mỹ trong cùng giai đoạn. Tập đoàn Lưới điện Nhà nước Trung Quốc công bố kế hoạch đầu tư khoảng 4.000 tỉ nhân dân tệ, tương đương 580 tỉ USD, vào tài sản cố định trong giai đoạn 2026–2030, tăng khoảng 40% so với giai đoạn trước.
Mỹ đi đến cùng một kết luận bằng con đường khác. Thay vì quy hoạch tập trung, sức ép thị trường đẩy các tập đoàn công nghệ tự tìm kiếm nguồn điện dài hạn.
Microsoft hỗ trợ tái khởi động một tổ máy hạt nhân công suất khoảng 835 MW tại Pennsylvania. Google hợp tác với Kairos Power, hướng tới chuỗi lò phản ứng tiên tiến có tổng công suất 500 MW vào năm 2035. Meta kí hợp đồng kéo dài 20 năm để duy trì hoạt động của Trung tâm Điện hạt nhân Clinton, công suất 1.121 MW. Amazon đầu tư vào các dự án lò phản ứng mô-đun nhỏ.
Động cơ của những doanh nghiệp này là thương mại, nhưng kết quả là họ góp phần duy trì, tái khởi động hoặc mở đường cho những nguồn điện có khả năng cung cấp ổn định trong nhiều thập niên. Các lò phản ứng mô-đun nhỏ hứa hẹn tính linh hoạt và mức độ an toàn cao hơn, dù những rào cản về kĩ thuật, pháp lí và chi phí vẫn chưa được tháo gỡ.
.jpg)

