Đầu tư - Tài chính

Tín dụng tăng nhanh, ngân hàng tìm cách xoay vốn

Thùy Linh • 07/10/2026 15:30

Tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến bài toán nguồn vốn của ngân hàng thêm áp lực. Các nhà băng vừa mở rộng kênh huy động, vừa tìm cách đưa vốn đến doanh nghiệp, hộ kinh doanh với chi phí phù hợp.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa công bố kết quả chính của cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý IV/2026.

Theo đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng, gồm gửi tiền, thanh toán và vay vốn, tiếp tục cải thiện.

Ngân hàng xoay vốn khi tín dụng tăng nhanh

Trong đó, nhu cầu gửi tiền và thanh toán cải thiện mạnh hơn quý trước. Nhu cầu vay vốn vẫn là nhóm cải thiện nhiều nhất, dù mức độ thấp hơn quý trước.

Xét theo nhóm khách hàng, nhu cầu vay vốn của khối tổ chức tiếp tục cao hơn khách hàng cá nhân, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa có dấu hiệu tăng rõ rệt. Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng tăng mạnh nhất trong quý III/2026.

Áp lực vốn vay dài hạn đặt ra yêu cầu phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng. Ảnh: T.L
Sản xuất, kinh doanh tăng tốc cuối năm kéo theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp gia tăng. Ảnh:T.L

Nhu cầu vốn gia tăng cũng thể hiện qua tốc độ mở rộng tín dụng. Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết: Tính chung 9 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025.

Trong khi đó, huy động vốn tăng chậm hơn. Theo Cục Thống kê, tính đến ngày 28/9, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm trước.

Khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động cho thấy dòng vốn ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh vào nền kinh tế, trong khi nguồn tiền đầu vào chưa tăng tương ứng. Điều này đặt các nhà băng trước bài toán vừa bảo đảm nguồn lực đáp ứng nhu cầu vay vốn, vừa cân đối thanh khoản, kỳ hạn và chi phí vốn.

Trong bối cảnh đó, bên cạnh tiền gửi của người dân và doanh nghiệp, trái phiếu đang trở thành một trong những kênh được nhiều ngân hàng sử dụng để bổ sung nguồn vốn.

Theo Báo cáo thị trường trái phiếu của Công ty Chứng khoán MB (MBS), tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong tháng 8 đạt 61.500 tỷ đồng, tăng 48,7% so với tháng trước và 1,7% so với cùng kỳ.

Ngân hàng tiếp tục dẫn dắt thị trường với 36.300 tỷ đồng trái phiếu được phát hành trong tháng, chiếm 59% tổng giá trị. Như vậy, cứ 10 đồng vốn huy động qua kênh trái phiếu doanh nghiệp trong tháng 8 thì gần 6 đồng đến từ các ngân hàng.

Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, ngành ngân hàng phát hành 192.200 tỷ đồng trái phiếu, chiếm một nửa quy mô toàn thị trường. Lãi suất phát hành bình quân ở mức 8,5%/năm, thấp hơn khoảng một điểm phần trăm so với bình quân thị trường, trong khi kỳ hạn bình quân đạt 5,2 năm.

Xét từng tổ chức, Techcombank (TCB) dẫn đầu với 25.000 tỷ đồng, tiếp đến là Sacombank (STB) với 20.000 tỷ đồng và MB (MBB) gần 19.900 tỷ đồng.

Các đợt phát hành gần đây cũng cho thấy hoạt động huy động vốn qua kênh này vẫn diễn ra khá sôi động với nhiều kỳ hạn và mức lãi suất khác nhau.

Việc thu thập thông tin nhằm phục vụ đánh giá rủi ro phòng, chống rửa tiền tổng thể tại các tổ chức tín dụng. Ảnh: T.L
Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, vốn quốc tế trở thành một trong những kênh bổ sung nguồn lực cho ngân hàng. Ảnh: T.L

Gần đây nhất, PVcomBank (PCB) hoàn tất phát hành lô trái phiếu trị giá 200 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm, với lãi suất lên tới 10,5%/năm trong năm đầu tiên.

Trước đó, đầu tháng 8/2026, Sacombank phát hành trái phiếu với lãi suất cố định 10%/năm. TPBank cũng huy động thành công 100 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 10 năm, lãi suất 9,5%/năm.

Techcombank huy động thành công ba lô trái phiếu tổng trị giá 5.000 tỷ đồng, cùng kỳ hạn ba năm, với lãi suất cố định 8,8-9%/năm. MB huy động 1.750 tỷ đồng qua hai lô trái phiếu kỳ hạn sáu năm, lãi suất 9%/năm. Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, BIDV phát hành trái phiếu với lãi suất 8-8,2%/năm, còn Vietcombank ở mức 7,87-8%/năm.

Tuy nhiên, trái phiếu chỉ là một trong nhiều kênh giúp các ngân hàng giải bài toán nguồn vốn khi tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi.

Chia sẻ với tạp chí Một thế giới, ông Nguyễn Hưng, Tổng giám đốc TPBank, cho biết: “Dù huy động từ khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế chưa theo kịp tốc độ tăng tín dụng, ngân hàng đã chủ động bù đắp phần thiếu hụt bằng các kênh vốn bán buôn.

Trong đó, TPBank vay nước ngoài khoảng 470 triệu USD thông qua các khoản vay thương mại (trade loans). Ngân hàng cũng huy động qua phát hành giấy tờ có giá, đồng thời sử dụng thị trường liên ngân hàng và nghiệp vụ thị trường mở (OMO) với quy mô gần 43.000 tỷ đồng khi cần điều tiết vốn ngắn hạn.

Theo ông Hưng, việc đa dạng hóa nguồn vốn giúp ngân hàng tối ưu chi phí do các kênh này thường có mức lãi suất cạnh tranh hơn so với việc chạy đua huy động tiền gửi dân cư. Đồng thời, ngân hàng có thêm dư địa bảo đảm các tỷ lệ an toàn thanh khoản theo quy định, gồm tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) và tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung, dài hạn.

Đặc biệt, nguồn vốn có kỳ hạn dài giúp ngân hàng cân đối tốt hơn giữa kỳ hạn huy động và cho vay, từ đó chủ động bố trí nguồn lực phù hợp để giải ngân các gói tín dụng ưu đãi.

“Chúng tôi đã và đang tiếp tục tận dụng các kênh vốn quốc tế, phát hành giấy tờ có giá và thị trường liên ngân hàng để bảo đảm nguồn lực giải ngân, song song với mục tiêu tăng trưởng tín dụng và kiểm soát chất lượng tài sản theo định hướng năm 2026”, ông Hưng nhấn mạnh.

Mở đường đưa vốn đến doanh nghiệp nhỏ

Đa dạng nguồn huy động mới giải quyết một nửa bài toán. Khi nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng, phần còn lại là làm sao đưa dòng vốn đến đúng khách hàng với chi phí phù hợp, đồng thời vẫn kiểm soát được rủi ro.

Bài toán này càng đáng chú ý với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh - nhóm có nhu cầu vốn lớn nhưng khả năng tiếp cận tín dụng còn chịu tác động bởi chi phí vay, tài sản bảo đảm, mức độ minh bạch tài chính và khả năng chứng minh dòng tiền.

Ở góc độ chi phí vốn, một số ngân hàng đang triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi hướng đến nhóm khách hàng này. Sacombank, chẳng hạn, triển khai các gói vay quy mô 10.000-15.000 tỷ đồng dành cho khách hàng thuộc lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp FDI, với lãi suất dự kiến 8,5-9%/năm. Ngân hàng cũng giảm 2% lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, áp dụng cho cả khách hàng mới và hiện hữu đến hết năm 2026.

Bên cạnh vốn vay, hộ kinh doanh và doanh nghiệp đang phải thích ứng với những thay đổi về chính sách thuế, hóa đơn điện tử và yêu cầu minh bạch doanh thu. Sacombank cho biết đang phối hợp với Cục Thuế và cơ quan thuế tại nhiều địa phương để hướng dẫn khách hàng cập nhật các quy định mới, qua đó chủ động hơn trong quá trình chuyển đổi phương thức quản lý và thực hiện nghĩa vụ liên quan.

tin-dung-1.jpg
Kết nối dữ liệu kinh doanh với dịch vụ ngân hàng giúp hộ kinh doanh tiếp cận vốn thuận tiện hơn trên nền tảng số. Ảnh: T.L

Tuy nhiên, chi phí vốn chưa phải rào cản duy nhất. Với nhiều hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, khó khăn còn nằm ở tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chưa đầy đủ hoặc khả năng chứng minh dòng tiền.

Dữ liệu từ hoạt động bán hàng, doanh thu và dòng tiền trên các nền tảng số đang mở thêm một cách tiếp cận. Khi hoạt động kinh doanh được số hóa, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá khả năng tài chính của khách hàng, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận vốn cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.

Mới đây, ngân hàng số Cake by VPBank và Công ty Công nghệ KiotViet ký thỏa thuận hợp tác, kết nối dữ liệu vận hành trên nền tảng quản lý bán hàng với các dịch vụ tài chính số. Theo kế hoạch, ngay trong tháng 10, Cake sẽ cung cấp gói vay dành cho các chủ hộ kinh doanh đang sử dụng KiotViet.

Khách hàng có thể đăng ký, định danh, nhận kết quả phê duyệt và ký hợp đồng trực tuyến trên nền tảng KiotViet. Gói vay tín chấp có hạn mức tối đa 300 triệu đồng, kỳ hạn lên đến 48 tháng và không yêu cầu tài sản bảo đảm.

Ông Nguyễn Hữu Quang, Tổng giám đốc ngân hàng số Cake by VPBank cho biết: Việc đưa dịch vụ tài chính vào nền tảng bán hàng giúp ngân hàng hiện diện ngay trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của hàng trăm nghìn hộ kinh doanh.

“Khi cần vốn, họ có thể tiếp cận nguồn vốn chính thức một cách an toàn, nhanh chóng, ngay trên công cụ quen thuộc. Chúng tôi muốn cùng hộ kinh doanh vượt qua khó khăn, giữ vững dòng tiền và lớn mạnh mỗi ngày”, ông Quang nói.

Việc số hóa hoạt động bán hàng, thanh toán và dòng tiền vì thế không chỉ giúp hộ kinh doanh quản lý hoạt động tốt hơn, mà còn tạo thêm dữ liệu phục vụ quá trình tiếp cận các dịch vụ tài chính. Đây cũng là một hướng để dòng vốn ngân hàng đến gần hơn với nhóm khách hàng nhỏ, vốn lâu nay gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng chính thức.

Nổi bật
      Mới nhất
      Tín dụng tăng nhanh, ngân hàng tìm cách xoay vốn
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO