Thời sự

TP.HCM 'đặt cược' vào ngành công nghệ sinh học 2.700 tỉ USD

Hoàng Bắc 01/08/2026 13:44

Công nghệ sinh học đang trở thành một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với quy mô kinh tế dự báo vượt 2.700 tỉ USD mỗi năm.

Việc TP.HCM xây dựng Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đến năm 2045 cho thấy tham vọng hình thành một động lực tăng trưởng mới, đưa khoa học, đổi mới sáng tạo và công nghệ trở thành nền tảng của nền kinh tế tri thức.

TP.HCM tham vọng xây dựng ngành công nghiệp mới

Sở KH- CN TP.HCM đang lấy ý kiến dự thảo Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, đồng thời gắn với Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

19hdkhlvtoadamgopydeancnshh5_fa14b954b5984bf2edd50b32f6600e396e280b1f.jpg
Nhiều đại biểu là các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện viện, trường, doanh nghiệp, sở ngành tham dự tọa đàm và góp ý dự thảo Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh: Sở KH - CN TP.HCM.

Điểm đáng chú ý là đề án không dừng ở mục tiêu phát triển nghiên cứu khoa học. Thành phố muốn hình thành một ngành công nghiệp sinh học hoàn chỉnh, có khả năng tạo ra doanh nghiệp, sản phẩm và giá trị kinh tế.

Theo dự thảo, TP.HCM ưu tiên phát triển 8 lĩnh vực gồm y sinh và chăm sóc sức khỏe, sinh dược phẩm, nông nghiệp và thủy sản công nghệ cao, giống và nguồn gene, công nghiệp và vật liệu sinh học, môi trường, dữ liệu sinh học và dịch vụ kĩ thuật.

Đến năm 2030, công nghệ sinh học được kỳ vọng đóng góp từ 3-5% GRDP, 100% dữ liệu ngành được số hóa, hình thành 120-150 sản phẩm thương mại hóa và ươm tạo 25-40 doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực này.

Theo ông Trần Trọng Tuyên - Phó Giám đốc Sở KH – CN TP.HCM, sau khi mở rộng không gian phát triển, Thành phố có thêm nhiều lợi thế về nghiên cứu khoa học, y tế, giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, thủy sản, kinh tế biển, logistics, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.

Quan trọng hơn, đề án đánh dấu sự thay đổi về tư duy phát triển. Trước đây chính sách chủ yếu hỗ trợ từng đề tài nghiên cứu. Hiện nay, thành phố hướng đến xây dựng toàn bộ chuỗi giá trị của ngành công nghiệp sinh học, từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử, kiểm nghiệm, chứng nhận đến chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.

Đây cũng là cách tiếp cận mà nhiều quốc gia phát triển đã lựa chọn để xây dựng ngành công nghiệp sinh học thành một động lực tăng trưởng mới.

TP.HCM đang nắm lợi thế gì trong cuộc đua công nghệ sinh học?

Theo nghiên cứu Công nghiệp sinh học tại TP.HCM - Tiềm năng, cơ hội và động lực phát triển” của PGS.TS Trương Hải Nhung (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia TP.HCM) và GS.TS Trần Linh Thước (Hội Sinh học và Công nghệ sinh học TP.HCM), công nghệ sinh học đã vượt xa phạm vi của một ngành nghiên cứu. Đây đang là nền tảng của y học chính xác, vaccine thế hệ mới, công nghệ gene, liệu pháp tế bào, sinh học số và nhiều ngành công nghiệp giá trị cao.

Khu Công nghệ cao TP.HCM mở rộng gần 195 ha. Ảnh: KCNC TP.HCM
Khu Công nghệ cao TP.HCM mở rộng gần 195 ha. Ảnh: KCNC TP.HCM

OECD và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) dự báo kinh tế sinh học toàn cầu sẽ tạo ra hơn 2.700 tỉ USD mỗi năm trong giai đoạn tới. Cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia đang chuyển dần từ khai thác tài nguyên sang làm chủ công nghệ sinh học.

Trong xu thế đó, TP.HCM được đánh giá là địa phương có nhiều điều kiện nhất để hình thành trung tâm công nghiệp sinh học của Việt Nam.

Thành phố sở hữu hệ sinh thái nghiên cứu lớn nhất cả nước với Đại học Quốc gia TP.HCM, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM, Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP), SHTP Labs, hệ thống bệnh viện tuyến cuối, các viện nghiên cứu và hàng trăm doanh nghiệp công nghệ cao.

Điểm mạnh lớn nhất không nằm ở từng đơn vị riêng lẻ mà ở khả năng kết nối các nguồn lực thành chuỗi nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thương mại hóa.

Nhiều công nghệ nền tảng đã và đang được phát triển như genomics, multi-omics, AI, công nghệ tế bào gốc, in sinh học 3D, protein tái tổ hợp, vaccine, vật liệu y sinh, cảm biến sinh học và thiết bị y tế thông minh. Đây đều là các lĩnh vực thuộc Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia theo Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg.

Cùng với đó đó là nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao và hạ tầng nghiên cứu ngày càng hoàn thiện. Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM tập trung vào công nghệ gene, vi sinh, enzyme - protein và nông nghiệp công nghệ cao. SHTP Labs phát triển các nghiên cứu liên ngành giữa sinh học, vật liệu, vi điện tử và AI.

Theo Chương trình khoa học và công nghệ TP.HCM giai đoạn 2026-2030, Thành phố đặt mục tiêu chi cho R&D đạt 2-3% GRDP, công bố trên 3.500 bài báo Scopus/ISI mỗi năm và hình thành ít nhất 5 trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đạt trình độ quốc tế.

Theo hai tác giả, những lợi thế này tạo nền móng để TP.HCM phát triển công nghiệp sinh học theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Tuy nhiên, lợi thế nghiên cứu mới chỉ là điểm khởi đầu. Muốn hình thành một ngành công nghiệp thực sự, Thành phố phải vượt qua những rào cản về thể chế và thương mại hóa.

Thể chế quyết định việc khai mở "mỏ vàng" công nghệ sinh học

Theo PGS.TS Trương Hải Nhung và GS.TS Trần Linh Thước, điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp sinh học Việt Nam không nằm ở ý tưởng hay nhân lực mà ở khả năng đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Việt Nam cần nhiều hơn những giải pháp công nghệ đơn lẻ mà phải xây dựng một nền công nghiệp xanh. Ảnh minh hoạ
TP.HCM cần nhiều hơn những giải pháp công nghệ đơn lẻ mà phải xây dựng một nền công nghiệp xanh. Ảnh minh hoạ

Hiện quy mô thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam chỉ chiếm dưới 0,1% thị trường toàn cầu. Phần lớn kết quả nghiên cứu vẫn dừng ở quy mô phòng thí nghiệm hoặc sản xuất thử.

Nguyên nhân đầu tiên là thiếu hạ tầng trung gian phục vụ thương mại hóa. Việt Nam chưa có nhiều trung tâm sản xuất thử (pilot-scale), cơ sở đạt chuẩn GMP sinh học, trung tâm đánh giá tiền lâm sàng hay hệ thống kiểm định đủ năng lực đưa công nghệ vào sản xuất quy mô công nghiệp.

Trong khi đó, một sản phẩm công nghệ sinh học thường cần 10-15 năm nghiên cứu với chi phí rất lớn và tỉ lệ rủi ro cao. Nếu thiếu hạ tầng hỗ trợ, viện nghiên cứu khó đi hết chặng đường, còn doanh nghiệp không đủ nguồn lực để đầu tư.

Rào cản tiếp theo là cơ chế quản lí và tài chính. Công nghệ sinh học có chu kì đầu tư dài, nhưng nhiều chương trình vẫn được quản lí theo tư duy của các đề tài nghiên cứu truyền thống. Quy trình cấp phép, đánh giá tiền lâm sàng, đăng kí lưu hành và chuyển giao công nghệ còn kéo dài.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, nhóm nghiên cứu đề xuất TP.HCM sớm triển khai cơ chế sandbox cho các công nghệ mới như công nghệ gene, liệu pháp tế bào và y học tái tạo; áp dụng cơ chế fast-track trong thẩm định tiền lâm sàng; đồng thời phát triển mô hình hợp tác "3 nhà" giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

Đặc biệt, hai tác giả đề xuất xây dựng BioHub TP.HCM - trung tâm liên kết nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất và thương mại hóa công nghệ sinh học quy mô vùng. BioHub sẽ tích hợp phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở sản xuất thử đạt chuẩn GMP, trung tâm dữ liệu sinh học, hệ thống thử nghiệm tiền lâm sàng và không gian hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp.

Song song đó là hình thành Liên minh Công nghiệp sinh học TP.HCM, kết nối Đại học Quốc gia TP.HCM, Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM, Khu Công nghệ cao TP.HCM, hệ thống bệnh viện, doanh nghiệp và các quỹ đầu tư để xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến thị trường.

Theo nhóm nghiên cứu, Singapore với Biopolis, Hàn Quốc với Osong Bio Valley hay các cụm công nghệ sinh học tại Boston và San Diego (Mỹ) đều thành công nhờ mô hình liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Đối với TP.HCM, cơ hội đang mở ra khi thành phố đồng thời triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Đề án phát triển công nghệ sinh học đến năm 2045. Nếu tháo gỡ được những "nút thắt" về thể chế, hạ tầng và thương mại hóa, TP.HCM sẽ có cơ hội hình thành một ngành công nghiệp công nghệ cao mới, tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế tri thức.

Cuộc cạnh tranh của thế kỉ XXI không còn xoay quanh tài nguyên thiên nhiên. Giá trị lớn nhất nằm ở tri thức, dữ liệu và công nghệ. TP.HCM đã có nền tảng để bước vào cuộc đua ấy. Điều còn lại là tốc độ cải cách và quyết tâm biến những kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nổi bật
      Mới nhất
      TP.HCM 'đặt cược' vào ngành công nghệ sinh học 2.700 tỉ USD
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO