Kinh tế

'TP.HCM không thể chỉ giàu có, phải là siêu đô thị hạnh phúc'

Hoàng Bắc • 20/10/2026 15:56

Từ đề xuất định vị TP.HCM là “Megacity” năm 2021, ông Võ Thành Đăng (Danny Võ), doanh nhân kiều bào Singapore, thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học Sức khỏe, Hội Quân Dân Y Việt Nam, tiếp tục đề xuất đưa sức khỏe và chất lượng sống vào chiến lược phát triển đô thị.

Mô hình W.E.L.L. City hướng đến kết nối tăng trưởng kinh tế với sức khỏe và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân trong tầm nhìn đến năm 2075.

Từ siêu đô thị đến chất lượng sống

Năm 2021, trong khuôn khổ cuộc thi “Cùng hiến kế TP.HCM nâng tầm quốc tế”, ông Võ Thành Đăng đề xuất định vị TP.HCM là “Megacity” (siêu đô thị). Theo ông, để nâng cao vị thế quốc tế, thành phố cần chiến lược thương hiệu dựa trên ba yếu tố: chiến lược, hình ảnh và văn hóa, kết hợp công thức 4C gồm rõ ràng, nhất quán, thuyết phục và ưu việt.

302168167_508935931232402_7125056195031770028_n.jpg
Ông Võ Thành Đăng (Danny Võ), doanh nhân kiều bào Singapore đề xuất đưa sức khỏe và chất lượng sống vào chiến lược phát triển đô thị. Ảnh: FB nhân vật

Sau 5 năm, hướng tiếp cận của ông chuyển từ xây dựng thương hiệu sang chất lượng phát triển đô thị. Theo đó, quy mô dân số, kinh tế và hạ tầng vẫn là những yếu tố quan trọng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ mức độ phát triển nếu người dân chưa được thụ hưởng điều kiện sống tương xứng. Vì vậy, bên cạnh các chỉ số tăng trưởng, thành phố cần quan tâm đến sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu.

Từ đó, ông đặt vấn đề liệu một siêu đô thị có đồng nghĩa với một đô thị hạnh phúc hay không, đồng thời đề xuất bổ sung các chỉ số sức khỏe và chất lượng sống vào quá trình hoạch định chính sách.

Một cơ sở để ông đưa ra đề xuất là tiềm năng của kinh tế sức khỏe. Theo Báo cáo Xếp hạng Nền kinh tế Wellness Toàn cầu năm 2026 của Viện Sức khỏe Toàn cầu (GWI) được dẫn trong tài liệu, lĩnh vực này đạt quy mô 6.800 tỉ USD năm 2024, tăng trưởng bình quân 6,2% mỗi năm. Việt Nam xếp thứ 31 trong 145 quốc gia, với thị trường trị giá 27,29 tỉ USD.

Tuy nhiên, chi tiêu sức khỏe bình quân đầu người tại Việt Nam mới đạt 270 USD mỗi năm, thấp hơn mức 471 USD của châu Á và 3.845 USD tại Singapore. GWI dự báo kinh tế sức khỏe toàn cầu có thể đạt gần 9.800 tỉ USD vào năm 2029; riêng Việt Nam tăng trưởng bình quân 8,5% trong giai đoạn 2019–2024.

Kinh tế sức khỏe không chỉ bao gồm dịch vụ y tế, mà còn liên quan đến dinh dưỡng, hoạt động thể chất, chăm sóc sức khỏe tinh thần, bất động sản sức khỏe và du lịch.

Theo ông Đăng, TP.HCM có thể nghiên cứu đưa lĩnh vực này vào định hướng phát triển đô thị. Dù vậy, quy mô thị trường và tốc độ tăng trưởng mới phản ánh tiềm năng kinh tế, chưa đủ để chứng minh hiệu quả của một mô hình quản trị. Việc cụ thể hóa đề xuất cần dựa trên nhu cầu thực tế, nguồn lực đầu tư và các tiêu chí đánh giá kết quả.

W.E.L.L. City và bài toán triển khai

Từ định hướng gắn tăng trưởng với chất lượng sống, ông Võ Thành Đăng đề xuất mô hình W.E.L.L. City với bốn nhóm nội dung: kinh tế sức khỏe; hệ sinh thái sức khỏe và giáo dục; khả năng đáng sống; kinh tế bạc và trường thọ.

Một trọng tâm của mô hình là CityWell Index (Chỉ số Sức khỏe Đô thị), được đề xuất theo dõi song song với các chỉ số kinh tế như GRDP. Chỉ số này dự kiến dựa trên khung H.A.P.P.I.N.E.S.S do ông và cộng sự phát triển, gồm chín chiều kích: hàn gắn, phát triển, đam mê, mục đích sống, kết nối, tư duy hiện tại, cân bằng cảm xúc, sức mạnh nội tại và niềm tin.

Dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và Cây xanh công cộng Bến Bạch Đằng. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP.HCM
Dự án Công viên văn hóa Bến Nhà Rồng - Khánh Hội và Cây xanh công cộng Bến Bạch Đằng. Ảnh: Cổng thông tin điện tử TP.HCM

Theo đề xuất, chỉ số có thể được theo dõi theo từng phường, xã và nhóm dân cư để nhận diện những vấn đề về sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng tiếp cận dịch vụ. Ông Đăng cũng nêu phương án thành lập Quỹ Vì Sức khỏe Tinh thần TP.HCM theo mô hình kết hợp công – tư, cùng các trung tâm sức khỏe cộng đồng tại cơ sở.

Tuy nhiên, để phục vụ hoạch định chính sách, CityWell Index cần có bộ tiêu chí minh bạch, phương pháp thu thập dữ liệu đáng tin cậy và cơ chế cập nhật định kỳ. Kết quả đánh giá cũng phải phản ánh được khác biệt giữa các nhóm dân cư, tránh tình trạng chỉ số tổng hợp không thể hiện đúng nhu cầu của từng địa bàn.

Ở cấp cộng đồng, mô hình hướng đến kết nối trường học, nơi làm việc và khu dân cư thông qua các chương trình chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần và phòng ngừa bệnh tật. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào môi trường sinh hoạt hằng ngày, thay vì chỉ xử lí vấn đề khi bệnh tật hoặc các nguy cơ sức khỏe đã phát sinh.

Trên cơ sở đó, ông Đăng đề xuất TP.HCM nghiên cứu thu hút đầu tư vào bệnh viện, trường đại học y khoa và du lịch sức khỏe. Theo số liệu được dẫn trong tài liệu, thị trường du lịch sức khỏe toàn cầu đạt 894 tỉ USD năm 2024. Ông cho rằng thành phố có thể xem xét phát triển lĩnh vực này dựa trên hệ thống y tế, nguồn nhân lực, y học cổ truyền và khả năng kết nối với các điểm đến du lịch khác.

Dù vậy, tiềm năng thị trường chưa đồng nghĩa với lợi thế cạnh tranh. Chất lượng chuyên môn, tiêu chuẩn dịch vụ, hạ tầng và khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng vẫn là những điều kiện quyết định hiệu quả của hướng phát triển này.

Một trụ cột khác là nâng cao khả năng đáng sống theo hướng bao trùm, chú trọng nhu cầu của người cao tuổi, trẻ em, lao động di cư và người khuyết tật. Các vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống như giao thông, ngập nước, sức khỏe tinh thần và khả năng tiếp cận dịch vụ công cũng cần được phản ánh trong quá trình đánh giá chất lượng đô thị.

Đối với kinh tế bạc và trường thọ, ông Đăng đề xuất nghiên cứu các mô hình chăm sóc tích hợp, kết nối người cao tuổi với cơ sở giáo dục và dịch vụ cộng đồng trong bối cảnh dân số già hóa. Việc triển khai cần tính đến nhu cầu chăm sóc dài hạn, khả năng chi trả của người dân và năng lực cung ứng dịch vụ.

Về kinh nghiệm quốc tế, ông đề cập các chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần, sức khỏe tại nơi làm việc và phát triển kinh tế bạc ở Singapore, đồng thời viện dẫn Ngân sách Hạnh phúc của New Zealand, trong đó sức khỏe, môi trường và kết nối xã hội được đưa vào quá trình hoạch định chính sách. Theo ông, TP.HCM có thể tham khảo các mô hình này nhưng cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và thể chế trong nước.

Lộ trình ông Đăng đề xuất gồm ba giai đoạn. Trong giai đoạn 2026–2030, thành phố xây dựng CityWell Index và thí điểm mô hình tại năm phường, xã. Giai đoạn 2030–2045 hướng đến mở rộng chương trình, thu hút đầu tư vào lĩnh vực sức khỏe và phát triển hệ sinh thái giáo dục, y tế quốc tế. Đến giai đoạn 2045–2075, mục tiêu được đặt ra là đưa TP.HCM trở thành hình mẫu đô thị hạnh phúc trong khu vực ASEAN.

Để bổ sung nguồn lực, ông cũng đề xuất kết nối cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nhất là các chuyên gia về sức khỏe, giáo dục và công nghệ y tế. Tuy nhiên, việc huy động nguồn lực này cần gắn với cơ chế hợp tác cụ thể để chuyển giao tri thức và kinh nghiệm thành các chương trình thiết thực.

W.E.L.L. City hiện là đề xuất định hướng của ông Võ Thành Đăng, chưa phải mô hình quản trị đã được kiểm chứng tại TP.HCM. Tính khả thi sẽ phụ thuộc vào nguồn lực, cơ chế phối hợp, chất lượng dữ liệu và khả năng đo lường hiệu quả. Việc thí điểm trên phạm vi hẹp có thể giúp đánh giá kết quả trước khi xem xét mở rộng.

Từ đề xuất định vị TP.HCM là siêu đô thị năm 2021 đến tầm nhìn đô thị hạnh phúc năm 2075, vấn đề xuyên suốt là làm thế nào chuyển hóa tăng trưởng kinh tế thành chất lượng sống tốt hơn. Với cách tiếp cận này, hiệu quả phát triển đô thị không chỉ được nhìn qua quy mô kinh tế và hạ tầng, mà còn qua những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân.

Nổi bật
      Mới nhất
      'TP.HCM không thể chỉ giàu có, phải là siêu đô thị hạnh phúc'
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO