Cuộc sống số

Trẻ em rời nhà làm 'nhiệm vụ ảo'Bài 4: Bóc trần kĩ nghệ thao túng tâm lý từ xa

Nam Phong • 01/10/2026 09:34

Không cần bạo lực hay gặp mặt trực tiếp, tội phạm mạng vẫn có thể "tẩy não", điều khiển nạn nhân tự rời khỏi nhà và dâng tài sản. Góc nhìn tội phạm học từ Tiến sĩ Đào Trung Hiếu.

Bóc Trần “Nhiệm Vụ Ảo” Trên Mạng

K

hông gian mạng mở ra vô vàn cơ hội học tập và kết nối, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường. Thời gian qua, hàng loạt vụ việc học sinh, sinh viên nghe theo sự thao túng, tự nhốt mình trong nhà nghỉ hoặc tự tay phá két sắt mang tài sản giao cho kẻ xấu đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về vấn nạn bắt cóc online. Để bóc trần bản chất khoa học tội phạm và cơ chế kiểm soát tâm trí đằng sau các vụ việc này, PV Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi chuyên sâu với Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia.

Giải phẫu hiện trường phân tán trong vụ án khi tội phạm không cần có mặt tại hiện trường

- Thưa Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, những vụ việc thời gian qua cho thấy tội phạm công nghệ không cần tiếp xúc trực tiếp hay sử dụng vũ lực thể xác, nhưng lại có thể điều khiển học sinh, sinh viên tự rời khỏi nhà, tự phá két sắt mang tài sản đi giao dịch. Dưới góc độ tội phạm học, ông đánh giá thế nào về sự dịch chuyển phương thức phạm tội này?

Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu - chuyên gia tội phạm học.
Thượng tá, TS Đào Trung Hiếu - chuyên gia tội phạm học, Hiệp hội An ninh mạng.

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Gần 20 năm trực tiếp điều tra án hình sự hình thành trong tôi một thói quen nghề nghiệp: khi tiếp cận một vụ án, ngoài việc xem chuyện gì đã xảy ra, bao giờ cũng phải tìm cho được ai là người thực sự kiểm soát diễn biến và họ đã thiết lập sự kiểm soát ấy bằng cách nào. Với những vụ bắt giữ người, cướp, cưỡng đoạt tài sản theo phương thức truyền thống, dấu hiệu của sự khống chế thường khá rõ như vũ lực, hung khí hay căn phòng bị khóa.

Tuy nhiên, không gian mạng đang làm thay đổi logic quen thuộc ấy. Đối tượng có thể ở cách nạn nhân hàng nghìn cây số, thậm chí ngoài lãnh thổ, nhưng vẫn khiến một học sinh tự mở két lấy tiền, một sinh viên tự rời khỏi nhà, tìm đến khách sạn, đóng cửa phòng, cắt liên lạc với gia đình và thực hiện các giao dịch theo yêu cầu. Không ai giữ tay, không ai áp giải, cũng không có người đứng ngoài cửa canh giữ, nhưng hành vi của nạn nhân vẫn vận động theo một kịch bản do người khác thiết kế.

Dưới góc nhìn tội phạm học, có một thay đổi rất rõ: thay vì phải khống chế cơ thể nạn nhân, người phạm tội tìm cách chi phối cách nạn nhân nhận thức tình huống, đánh giá nguy cơ và lựa chọn hành động. Một khi ba mắt xích này bị kiểm soát, khoảng cách địa lý không còn là trở ngại quá lớn đối với việc điều khiển hành vi.

- Vậy cấu trúc của một "hiện trường" trong loại hình tội phạm "không chạm" này có gì khác biệt so với tội phạm truyền thống, thưa ông?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Người làm điều tra vốn quen nhìn hiện trường như một không gian vật chất, nơi dấu vết được hình thành và nơi có thể dựng lại diễn biến của hành vi phạm tội. Nhưng với tội phạm trên không gian mạng, cách nhìn ấy cần được mở rộng.

“

Dưới góc nhìn tội phạm học, có một thay đổi rất rõ: thay vì phải khống chế cơ thể nạn nhân, người phạm tội tìm cách chi phối cách nạn nhân nhận thức tình huống, đánh giá nguy cơ và lựa chọn hành động. Một khi ba mắt xích này bị kiểm soát, khoảng cách địa lý không còn là trở ngại quá lớn đối với việc điều khiển hành vi.

TS. Đào Trung Hiếu

Trong cùng một vụ việc, đối tượng có thể ở nước ngoài, nạn nhân ở Hà Nội, tài khoản nhận tiền tại một địa phương khác, dữ liệu nằm trên máy chủ ngoài lãnh thổ, còn việc giao tiếp được thực hiện qua một nền tảng xuyên biên giới. Có thể hình dung đây là một dạng “hiện trường phân tán”, trong đó các bộ phận của hành vi không còn nằm trong cùng một không gian nhưng vẫn liên kết chặt chẽ bằng dữ liệu, dòng tiền và chuỗi tác động tới nạn nhân.

Vì vậy, bên cạnh dấu vết điện tử và dòng tiền, có một chuỗi dấu vết khác cần được đọc kỹ: dấu vết của quá trình thao túng. Nạn nhân từ chỗ là đối tượng bị tác động đã bị biến thành một "cánh tay nối dài", tự thực hiện những công đoạn phục vụ chính kịch bản đang gây hại cho mình.

Chân dung nạn nhân và khoảng trống tâm lý lứa tuổi học sinh

- Nhiều người thường đặt câu hỏi tại sao học sinh, sinh viên - những người sử dụng công nghệ hằng ngày - lại dễ dàng sập bẫy và tin theo các đối tượng mạo danh cơ quan pháp luật?

đào trung hiếu - bắt cóc online
Tiến sĩ Đào Trung Hiếu giao lưu cùng các học sinh tại buổi sinh hoạt chuyên đề Kỹ năng sử dụng mạng xã hội và phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội trên không gian mạng tại trường THCS Khương Đình. Ảnh NVCC

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Khả năng sử dụng công nghệ và khả năng chống thao túng tâm lý là hai năng lực hoàn toàn khác nhau. Một sinh viên có thể rất thành thạo AI, mạng xã hội và ngân hàng số nhưng chưa từng phải đối diện với một người mặc sắc phục trên màn hình, đọc đúng một số thông tin cá nhân rồi thông báo rằng em có liên quan đến một đường dây rửa tiền. Một học sinh có thể dễ dàng nhận ra một đường link giả nhưng chưa chắc giữ được sự bình tĩnh khi được báo rằng bố mẹ đang gặp nguy hiểm.

Tội phạm không nhất thiết phải tìm một nạn nhân thiếu hiểu biết. Cái chúng cần là tìm đúng thời điểm mà khả năng phán đoán của một con người bị suy giảm bởi sợ hãi, cô đơn, lòng tin, tình cảm, lòng tham hoặc áp lực phải hành động ngay. Nói cách khác, chúng không tìm một con người yếu, mà tìm một khoảnh khắc dễ tổn thương trong một con người bình thường.

- Dưới góc độ chuyên gia tâm lý và tội phạm học, ông nhìn nhận thế nào về những "khoảng trống" riêng ở lứa tuổi học sinh, sinh viên khiến các em dễ bị tội phạm khai thác?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Ở học sinh, sinh viên luôn tồn tại một khoảng trống dễ bị khai thác. Đây là lứa tuổi muốn chứng minh mình đã trưởng thành, muốn tự giải quyết vấn đề, trong khi vẫn có những chuyện rất sợ cha mẹ biết vì xấu hổ, sợ bị trách mắng hoặc sợ làm cha mẹ thất vọng.

Nếu đối tượng vừa tạo được uy quyền giả, vừa đánh trúng điều mà đứa trẻ muốn giấu, sau đó yêu cầu giữ bí mật, một không gian thuận lợi cho thao túng bắt đầu hình thành. Sự sợ hãi bị phán xét từ gia đình đôi khi còn lớn hơn cả sự sợ hãi trước những đe dọa từ phía kẻ gian, tạo thành điểm tựa tâm lý để tội phạm dễ bề khống chế.

Cấu trúc hành vi và quy trình thao túng tâm lý từ xa

- Ông có thể phân tích chi tiết các bước trong cấu trúc hành vi mà tội phạm thường áp dụng để từng bước bóp nghẹt khả năng phản kháng của nạn nhân trong các vụ bắt cóc online không?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Thủ đoạn có thể thay đổi rất nhanh, hôm nay là giả danh công an, ngày mai có thể là nhân viên ngân hàng, nhà tuyển dụng hoặc người thân được giả mạo bằng công nghệ deepfake. Nhưng khi bỏ lớp vỏ công nghệ, nhiều kịch bản vẫn có một logic tương đối giống nhau qua năm trạng thái nối tiếp nhau: tạo tin, tạo sợ, tạo gấp, cô lập và ra lệnh.

Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu:
Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu

“

Hàng rào công nghệ dù cần thiết nhưng vẫn chưa đủ, bởi hàng rào cuối cùng nằm trong nhận thức và các mối quan hệ xã hội của mỗi người. Biết nghi ngờ đúng lúc, biết tạo khoảng dừng, biết kiểm chứng độc lập và không để bất kỳ ai ở phía bên kia màn hình tước mất hai quyền quan trọng nhất là quyền cầu cứu và quyền tự quyết chính là tấm lá chắn vững chắc nhất để bảo vệ thế hệ trẻ trước mọi cạm bẫy.

TS. Đào Trung Hiếu

Thứ nhất, tạo tin: Đối tượng phải tạo được một điểm tựa cho lòng tin bằng vài thông tin cá nhân chính xác, tài khoản có vẻ chính thống, giấy tờ, sắc phục hoặc giọng nói quen thuộc.

Thứ hai, tạo sợ: Đưa ra một biến cố lớn như tài khoản liên quan đến vụ án, người thân gặp nguy hiểm, bản thân có nguy cơ bị bắt.

Thứ ba, tạo gấp: Nỗi sợ hoặc lòng tham chưa đủ để kiểm soát hành vi nếu nạn nhân còn thời gian suy nghĩ, nên kịch bản thường xuất hiện yếu tố khẩn cấp: phải làm ngay, chỉ còn vài phút, không được tắt máy.

Thứ tư, cô lập: Yêu cầu giữ bí mật, không được nói với bố mẹ, không được hỏi người khác với lý do đây là bí mật điều tra.

Thứ năm, ra lệnh: Khi nạn nhân đã tin, đã sợ, đang bị thúc ép và không còn trao đổi với nguồn thông tin độc lập, các yêu cầu quan trọng mới được đưa ra.

- Mục đích sâu xa của quá trình năm trạng thái này là gì, thưa ông? Làm thế nào mà kẻ lừa đảo có thể khiến nạn nhân từ bỏ mọi phản kháng?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Mục tiêu của đối tượng là từng bước "thu hẹp không gian quyết định" của nạn nhân. Ở thời điểm đầu, một học sinh nhận được cuộc gọi đáng ngờ có rất nhiều lựa chọn: tắt máy, gọi cha mẹ, hỏi thầy cô hoặc tìm nguồn độc lập để kiểm chứng. Muốn điều khiển được em, kẻ phạm tội phải làm những lựa chọn ấy lần lượt biến mất.

"Không được tắt máy" lấy đi cơ hội bình tâm, "không được nói với ai" lấy đi nguồn tham khảo, "đây là bí mật điều tra" tạo lý do cô lập, còn "nếu em không làm ngay, bố mẹ sẽ gặp nguy hiểm" biến sự tuân thủ thành nghĩa vụ đạo đức. Ban đầu nạn nhân có rất nhiều lựa chọn, nhưng sau một thời gian bị dẫn dắt, trong nhận thức dường như chỉ còn một con đường duy nhất là làm theo.

"Nhà tù tâm lý" và nghịch lý biến nạn nhân thành công cụ

- Một điều khó hiểu là hiện tượng nạn nhân tự đến khách sạn, ở một mình trong phòng, vẫn cầm điện thoại nhưng không bước ra ngoài hay gọi về cho gia đình. Xin ông giải thích rõ hơn về cơ chế này?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Kẻ thao túng cố tạo ra trong nhận thức của nạn nhân một quan hệ nhân quả giả: nghe lời thì bản thân và gia đình an toàn, chống lại thì tai họa xảy ra. Nếu ở yên trong phòng, mọi chuyện sẽ được giải quyết; nếu gọi về nhà, bố mẹ sẽ gặp nguy hiểm. Khi niềm tin ấy đủ mạnh, căn phòng không khóa vẫn có thể trở thành một “nhà tù tâm lý”. Kẻ phạm tội không cần khóa cánh cửa thật nếu đã khiến nạn nhân tin rằng mình không được phép mở nó.

“

Nếu phòng chống lừa đảo chỉ bằng cách học thuộc từng thủ đoạn, chúng ta sẽ luôn chạy sau tội phạm vì kịch bản thay đổi rất nhanh. Điều bền vững hơn cần trang bị cho người trẻ là khả năng nhận ra khi ai đó đang can thiệp vào quá trình ra quyết định của mình.

TS. Đào Trung Hiếu

Chính áp lực thời gian làm cơ chế này mạnh thêm. Khi liên tục bị thúc phải hành động ngay, nạn nhân không còn đủ khoảng lùi để kiểm tra tính hợp lý của câu chuyện. Câu hỏi trong đầu dần chuyển từ “điều này có thật không?” sang “tôi phải làm gì để tai họa không xảy ra?”.

Từ đó dẫn đến một nghịch lý đau xót: một đứa trẻ có thể lấy tiền, mang vàng của gia đình đi bán, bỏ nhà đi, cắt liên lạc, thậm chí cung cấp hình ảnh để kẻ phạm tội sử dụng gây sức ép với chính gia đình mình, trong khi chủ quan lại tin rằng mình đang cứu bố mẹ. Nạn nhân tự bước đi, tự lấy tiền, tự thuê phòng, nhưng những quyết định ấy được hình thành trong một môi trường thông tin giả, dưới tác động liên tục của sợ hãi, cô lập và áp lực. Người phạm tội đã thành công trong việc "ủy thác" một phần hành vi thực tế cho chính nạn nhân thực hiện từ xa.

Xây dựng "vắc-xin tinh thần" và khoảng trống giao tiếp trong gia đình

- Nhìn từ góc độ tội phạm học, để vô hiệu hóa loại kỹ nghệ thao túng tâm lý từ xa này, chúng ta cần trang bị những giải pháp căn cơ nào cho thế hệ trẻ, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Nếu phòng chống lừa đảo chỉ bằng cách học thuộc từng thủ đoạn, chúng ta sẽ luôn chạy sau tội phạm vì kịch bản thay đổi rất nhanh. Điều bền vững hơn cần trang bị cho người trẻ là khả năng nhận ra khi ai đó đang can thiệp vào quá trình ra quyết định của mình.

Tôi cho rằng cần hình thành bốn phản xạ cốt lõi: Dừng trước một yêu cầu bất thường; Tách khỏi nguồn đang gây áp lực để lấy lại khoảng suy nghĩ; Kiểm chứng bằng một kênh độc lập do chính mình lựa chọn; Cầu cứu người thân, thầy cô hoặc cơ quan chức năng.

Bên cạnh đó, những vụ việc này cũng đặt ra câu hỏi lớn cho mỗi gia đình: khi đứa trẻ rơi vào tình huống tồi tệ nhất, cha mẹ có phải là người đầu tiên nó muốn tìm đến hay không? Không thể thấy một đứa trẻ bị lừa rồi quy trách nhiệm cho cha mẹ, nhưng sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua những khoảng trống giao tiếp mà tội phạm có thể khai thác. Cha mẹ nên nói rõ với con rằng bất kể con đã làm gì, nếu có người đe dọa, bắt giữ bí mật, yêu cầu tiền hoặc buộc con cắt liên lạc với gia đình, hãy gọi về ngay; việc đầu tiên bố mẹ làm là bảo vệ con, những chuyện khác sẽ giải quyết sau.

Hàng rào công nghệ dù cần thiết nhưng vẫn chưa đủ, bởi hàng rào cuối cùng nằm trong nhận thức và các mối quan hệ xã hội của mỗi người. Biết nghi ngờ đúng lúc, biết tạo khoảng dừng, biết kiểm chứng độc lập và không để bất kỳ ai ở phía bên kia màn hình tước mất hai quyền quan trọng nhất là quyền cầu cứu và quyền tự quyết chính là tấm lá chắn vững chắc nhất để bảo vệ thế hệ trẻ trước mọi cạm bẫy.

Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ rất sâu sắc và đầy tâm huyết của Tiến sĩ!

Khi những cạm bẫy trực tuyến ngày càng biến tướng tinh vi, việc chỉ trông chờ vào sự cảnh giác đơn lẻ của từng gia đình là không đủ. Làm thế nào để bịt kín những khoảng trống pháp lý, siết chặt quản lý các hội nhóm ẩn danh, nền tảng xuyên biên giới và trang bị cho thế hệ trẻ "chiếc khiên" đề kháng số vững chãi trước sóng dữ không gian mạng? Lời giải cho bài toán phòng ngừa từ gốc và hành động tổng lực của toàn xã hội sẽ được hé lộ trong bài cuối cùng:

Bài 5: Xây "vành đai thép" bảo vệ trẻ em trên không gian mạng

Nổi bật
      Mới nhất
      Trẻ em rời nhà làm 'nhiệm vụ ảo' Bài 4: Bóc trần kĩ nghệ thao túng tâm lý từ xa
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO