TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Giám định sở hữu trí tuệ không có tình trạng chậm trễ
TS. Nguyễn Hữu Cẩn khẳng định việc giám định Sở hữu trí tuệ được thực hiện cực kỳ nhanh chóng, hoàn toàn không chậm trễ hay có "nút thắt" như một số phản ánh.
Nhiều doanh nghiệp phản ánh thủ tục giám định sở hữu trí tuệ hiện nay còn chậm, gây kéo dài thời gian giải quyết tranh tụng. Phóng viên Một Thế Giới đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Hữu Cẩn - Quyền Viện trưởng Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia (Bộ KH&CN) nhằm làm rõ hoạt động giám định này.
- Nhiều doanh nghiệp phản ánh thủ tục giám định tại Việt Nam hiện nay còn chậm, gây kéo dài thời gian giải quyết tranh tụng. Xin ông cho biết đâu là "nút thắt" cốt lõi của sự chậm trễ này?
- TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Sở hữu trí tuệ gồm có Quyền tác giả và quyền liên quan; Sở hữu công nghiệp (SHCN) và Giống cây trồng. Bộ KH&CN chỉ có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với SHCN và chỉ thực hiện giám định về SHCN (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu…).

Việc giám định SHCN được Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia thực hiện một cách cực kỳ nhanh chóng, đáp ứng hoàn toàn yêu cầu của các doanh nghiệp cũng như của cơ quan có thẩm quyền; không có tình trạng chậm trễ, không có "nút thắt".
Quy định pháp luật và năng lực đáp ứng hồ sơ thực tế
- Cơ sở nào để Viện đưa ra khẳng định quy trình giám định diễn ra nhanh chóng và không có sự trì trệ, thưa ông?
- TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Pháp luật quy định rằng thời hạn thực hiện giám định Sở hữu trí tuệ là do người yêu cầu/trưng cầu giám định đặt ra trong văn bản yêu cầu/trưng cầu trên cơ sở thống nhất với cơ quan giám định và căn cứ vào mức độ phức tạp cũng như khối lượng công việc phải thực hiện khi giám định.
Để có cơ sở cho người yêu cầu/trưng cầu đặt ra thời hạn một cách phù hợp, Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia đã ấn định thời hạn hoàn thành việc giám định cho một vụ việc với 01 đối tượng có mức độ phức tạp trung bình để người yêu cầu/trưng cầu tham khảo. Ví dụ, đối với nhãn hiệu thì thời hạn là 01 tháng, với kiểu dáng công nghiệp là 1,5 tháng, sáng chế là 02 tháng.
Để thấy rõ thời hạn như trên là rất nhanh, cần đối chiếu thời hạn giám định do Viện ấn định với thời hạn thẩm định nội dung đơn đăng ký (xin cấp Bằng độc quyền) đối với nhãn hiệu/kiểu dáng công nghiệp/sáng chế - là công việc có bản chất cơ bản là giống như giám định - được quy định tại Điều 119.2 Luật Sở hữu trí tuệ: với sáng chế thời hạn thẩm định nội dung là không quá 18 tháng, với kiểu dáng công nghiệp là không quá 07 tháng, với nhãn hiệu là không quá 09 tháng (kể từ ngày công bố đơn).
- Trên thực tế, năng lực giải quyết các yêu cầu rút ngắn thời gian từ phía các đơn vị liên quan được Viện thực hiện ra sao?
- TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Mặc dù được ấn định như trên, hầu hết trong hơn 13 ngàn vụ việc giám định cho đến nay đều có yêu cầu thời hạn rút ngắn hơn nữa, thậm chí phổ biến là trong vài ngày làm việc, và đều được Viện đáp ứng.
Tuy nhiên, xin lưu ý thêm rằng, kết luận giám định là chứng cứ chuyên môn quan trọng, nên quá trình giám định phải bảo đảm tính chính xác, khách quan và khoa học. Một số vụ việc có nội dung kỹ thuật hoặc pháp lý phức tạp thì thời gian xử lý cần tương xứng để bảo đảm chất lượng.
Ngoài ra, trong không ít trường hợp, người yêu cầu/trưng cầu giám định cung cấp không đầy đủ tài liệu, mẫu vật để thực hiện giám định, ảnh hưởng đến thời gian xử lý yêu cầu giám định.
Lộ trình ứng dụng công nghệ song hành cùng giám định sở hữu trí tuệ
- Lộ trình ứng dụng các hệ thống rà quét và nhận diện vi phạm tự động bằng AI trong năm 2026 sẽ được triển khai cụ thể ra sao để rút ngắn tối đa thời gian phản hồi cho doanh nghiệp?
- TS. Nguyễn Hữu Cẩn: Theo Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 30/01/2026 về tăng cường thực thi quyền SHTT, Bộ KH&CN được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, cơ quan có liên quan khẩn trương nghiên cứu, tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hướng toàn diện, cập nhật, theo thông lệ quốc tế và đúng quy định của pháp luật, phấn đấu hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2026 và duy trì tính bền vững trong những năm tiếp theo, tạo công cụ quản lý, hỗ trợ xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; tăng cường ứng dụng các biện pháp công nghệ (như trí tuệ nhân tạo, công nghệ Blockchain,...) nhằm phát hiện, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số.
Đây là công việc cần có sự vào cuộc của cả hệ thống, đặc biệt là các công ty công nghệ, các tổ chức trung gian trong hệ sinh thái bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Trong năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ KH&CN dự kiến sẽ tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo, triển lãm để quảng bá rộng rãi hơn các công nghệ hỗ trợ phát hiện, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số đến các cơ quan thực thi quyền, các sàn thương mại điện tử, chủ thể quyền và người tiêu dùng.


