Vĩnh Long tìm cách đưa nông sản vào chuỗi phân phối hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa của Vĩnh Long tăng hơn 22% trong 9 tháng đầu năm 2026, nhưng phần giá trị do doanh nghiệp trong nước nắm giữ vẫn còn hạn chế. Tỉnh đặt mục tiêu tăng liên kết với TP.HCM để mở rộng đầu ra, nâng giá trị cho người sản xuất.
Tại Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026, diễn ra ngày 22/10, Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long đề xuất nhiều giải pháp tổ chức lại hệ thống phân phối và chuỗi cung ứng nông sản.
Trọng tâm là chuyển từ hoạt động xúc tiến thương mại đơn lẻ sang liên kết dài hạn giữa vùng nguyên liệu, doanh nghiệp thu mua, hệ thống bán lẻ và thị trường xuất khẩu.
Kết nối thị trường tăng, nhưng hợp đồng tiêu thụ còn là điểm nghẽn
Theo báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long, trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh đạt 152.765 tỷ đồng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4,918 tỷ USD, tăng 21,22% so với cùng kỳ và bằng 79,31% kế hoạch năm.

Riêng xuất khẩu hàng hóa đạt 3,289 tỷ USD, tăng 22,12% so với cùng kỳ. Trong đó, xuất khẩu nông sản đạt 334 triệu USD.
Những con số này cho thấy hoạt động thương mại của địa phương đang có bước tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu cũng bộc lộ một vấn đề cần giải quyết: giá trị gia tăng mà khu vực doanh nghiệp trong nước nắm giữ chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất.
Theo số liệu được Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Long nêu tại hội nghị, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 86,98% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 25,40%. Phần còn lại thuộc khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thực tế này đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng thị trường mà còn phải nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ trong tỉnh. Với một địa phương có thế mạnh về lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản, việc tổ chức lại khâu thu mua, bảo quản, chế biến và phân phối có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng tiêu thụ nông sản và thu nhập của người sản xuất.
Thời gian qua, ngành Công Thương Vĩnh Long triển khai nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối hệ thống phân phối và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Toàn tỉnh hiện có 6 trung tâm thương mại, 16 siêu thị, 203 cửa hàng tiện lợi và 401 chợ truyền thống. Đây là mạng lưới quan trọng để mở rộng tiêu thụ hàng hóa trong nước, đồng thời tạo điều kiện đưa nông sản địa phương vào các kênh bán lẻ hiện đại.
Về kết nối thị trường, Sở Công Thương đã tổ chức 3 hội chợ cấp tỉnh, quy mô từ 200-400 gian hàng; hỗ trợ 172 doanh nghiệp tham gia 13 hội chợ ngoài tỉnh. Đáng chú ý, tỉnh tổ chức 4 cuộc kết nối trực tiếp với các hệ thống phân phối hiện đại cho 48 doanh nghiệp, đồng thời tham gia thêm 5 cuộc kết nối ngoài tỉnh với 70 doanh nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả sau kết nối cho thấy khoảng cách giữa việc tiếp cận nhà phân phối và khả năng đưa hàng vào hệ thống bán lẻ vẫn còn đáng kể. Trong số 48 doanh nghiệp tham gia các cuộc kết nối trực tiếp với hệ thống phân phối hiện đại, mới có 20 doanh nghiệp được tiếp nhận hồ sơ đưa hàng vào hệ thống.
Việc được tiếp nhận hồ sơ chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm đã lên kệ hoặc có hợp đồng tiêu thụ ổn định. Doanh nghiệp còn phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, sản lượng, quy cách đóng gói, truy xuất nguồn gốc và khả năng duy trì nguồn cung.
Đây cũng là điểm nghẽn lớn của nông sản địa phương. Sản xuất phụ thuộc mùa vụ, quy mô cung ứng giữa các hộ và hợp tác xã chưa đồng đều, trong khi nhà phân phối cần nguồn hàng ổn định với số lượng và chất lượng được kiểm soát.

Nếu không có cơ chế liên kết đủ chặt, các hoạt động xúc tiến thương mại có thể tạo cơ hội gặp gỡ nhưng chưa giải quyết được bài toán đầu ra lâu dài. Hội chợ có thể giúp doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm, nhưng chỉ một chuỗi cung ứng được tổ chức tốt mới có thể duy trì đơn hàng và giữ sản phẩm trên thị trường.
Bên cạnh đó, hạ tầng sau thu hoạch còn thiếu và chưa đồng bộ. Kho lạnh, cơ sở sơ chế, đóng gói và trung tâm phân phối chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tại các vùng sản xuất tập trung. Chi phí vận chuyển, bảo quản và tỷ lệ hao hụt vì thế tăng lên, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản.
Áp lực còn đến từ các yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Để vào siêu thị, chợ đầu mối hoặc xuất khẩu sang những thị trường có tiêu chuẩn nghiêm ngặt, sản phẩm phải đáp ứng các điều kiện về an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, nhãn mác và truy xuất nguồn gốc.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về tài chính, công nghệ và năng lực quản trị chất lượng. Việc tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới chưa tương xứng với tiềm năng.
Một hạn chế khác là dữ liệu cung - cầu chưa được kết nối đầy đủ. Nhà sản xuất chưa nắm rõ thị trường cần loại hàng nào, sản lượng bao nhiêu và thời điểm giao hàng ra sao. Ngược lại, nhà phân phối cũng khó xác định chính xác vùng nào có hàng, sản lượng dự kiến và thời gian thu hoạch.
Khi thông tin thị trường, mùa vụ và năng lực cung ứng chưa được tập hợp thành hệ thống chung, việc tổ chức sản xuất theo nhu cầu thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn.
Tổ chức lại chuỗi cung ứng, lấy doanh nghiệp làm hạt nhân
Để khắc phục những hạn chế trên, Sở Công Thương Vĩnh Long đề xuất 5 nhóm giải pháp, tập trung vào tổ chức chuỗi giá trị, chuẩn hóa sản phẩm, phát triển logistics, kết nối dữ liệu và tăng cường liên kết vùng.

Trước hết, tỉnh định hướng xây dựng chuỗi giá trị có doanh nghiệp đầu chuỗi giữ vai trò dẫn dắt. Thay vì chỉ tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, mô hình mới hướng tới sự phân công rõ ràng giữa các chủ thể.
Theo đó, doanh nghiệp phân phối và xuất khẩu xác định nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu đơn hàng. Doanh nghiệp thu mua, chế biến tổ chức vận hành chuỗi. Hợp tác xã quản lý vùng nguyên liệu, còn nông hộ sản xuất theo hợp đồng và cam kết về chất lượng, sản lượng.
Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò hỗ trợ chuẩn hóa, thúc đẩy xúc tiến thương mại và kiểm soát truy xuất nguồn gốc, thay vì làm thay doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này hướng tới giải quyết một trong những nguyên nhân khiến nông sản khó tiêu thụ ổn định: sản xuất chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường. Khi doanh nghiệp đầu chuỗi tham gia từ khâu xác định yêu cầu sản phẩm, vùng nguyên liệu có thể chủ động hơn về kế hoạch sản xuất, còn nhà phân phối có cơ sở để xây dựng đơn hàng dài hạn.
Cùng với tổ chức chuỗi, Vĩnh Long đặt mục tiêu áp dụng một bộ tiêu chuẩn chung cho cả thị trường nội địa và xuất khẩu.
Các yêu cầu về mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc, nhãn mác và bao bì sẽ được xây dựng ngay từ đầu theo tiêu chuẩn của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.
Theo định hướng này, một sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn có thể tiếp cận siêu thị, chợ đầu mối, sàn thương mại điện tử và thị trường nước ngoài mà không phải tổ chức lại toàn bộ quy trình để đáp ứng từng kênh tiêu thụ.
Sở Công Thương dự kiến phối hợp với ngành nông nghiệp, khoa học và công nghệ cùng Liên minh Hợp tác xã hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất thực hiện các yêu cầu liên quan. Trong quý IV/2026, Sở cũng dự kiến tổ chức hội nghị triển khai Thông tư số 31/2026/TT-BCT ngày 11/6/2026 về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.
Về hạ tầng, tỉnh định hướng ưu tiên thu hút đầu tư kho lạnh, trung tâm phân phối và các điểm trung chuyển gắn với vùng nguyên liệu tập trung.
Theo Sở Công Thương, chợ đầu mối nông sản không chỉ là nơi mua bán mà còn cần đảm nhận các chức năng tập kết, sơ chế, phân loại, đóng gói và phân phối. Việc bố trí hạ tầng theo vùng sản xuất có thể giúp giảm chi phí vận chuyển, hạn chế hao hụt và nâng cao chất lượng hàng hóa trước khi đưa ra thị trường.
Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với nông sản tươi, vốn chịu áp lực lớn về thời gian bảo quản và điều kiện vận chuyển. Nếu thiếu kho lạnh và các khâu sơ chế phù hợp, sản phẩm có thể giảm chất lượng trước khi đến tay nhà phân phối, làm tăng chi phí và ảnh hưởng khả năng cạnh tranh.
Tỉnh cũng đang triển khai kế hoạch phát triển chợ giai đoạn 2026-2030, khảo sát vị trí xây dựng chợ đầu mối tại các xã, phường và đưa vào danh mục kêu gọi đầu tư. Đồng thời, 60 xã, phường đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi số theo mô hình Chợ 4.0 tại 70 chợ.
Trên môi trường số, Vĩnh Long hướng tới xây dựng bản đồ cung - cầu theo mùa vụ, cập nhật vùng sản xuất, chủng loại hàng hóa, sản lượng, thời điểm thu hoạch và nhu cầu của nhà phân phối. Dữ liệu này sẽ được kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc, sàn thương mại điện tử và hoạt động livestream bán hàng.
Trong năm 2026, kế hoạch phát triển thương mại điện tử của tỉnh đã tổ chức 6 lớp tập huấn. Các phiên livestream thực hành thu hút hơn 164.000 lượt xem. Mô hình điểm “Xã thương mại điện tử - Chợ Lách vươn mình” được xây dựng với sự tham gia của TikTok Việt Nam và Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam.
Tuy nhiên, hiệu quả của chuyển đổi số không chỉ nằm ở lượt xem hay số sản phẩm được đưa lên sàn. Vấn đề cốt lõi là khả năng chuyển sự quan tâm của người tiêu dùng thành đơn hàng, duy trì chất lượng giao hàng và tạo đầu ra ổn định cho người sản xuất.
Vì vậy, dữ liệu thị trường cần được gắn với năng lực cung ứng thực tế. Nhà phân phối phải biết rõ sản lượng có thể đáp ứng, thời gian giao hàng và tiêu chuẩn chất lượng; người sản xuất cũng cần nhận được thông tin cụ thể về nhu cầu, giá cả và điều kiện mua hàng.
Một hướng đi khác là tăng cường liên kết vùng, lấy TP.HCM làm đầu cầu tiêu thụ và logistics. Theo Sở Công Thương Vĩnh Long, TP.HCM vừa là thị trường tiêu dùng lớn của khu vực, vừa là đầu mối logistics và xuất khẩu quan trọng.
Tỉnh đề xuất phối hợp với TP.HCM và các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể hóa thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030 bằng những chương trình liên kết theo ngành hàng. Các địa phương cần chia sẻ thông tin thị trường, phối hợp phát triển vùng nguyên liệu, tránh cạnh tranh nội bộ trên cùng sản phẩm và tập hợp sản lượng để đáp ứng những đơn hàng lớn.
Mục tiêu là hình thành chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu Đồng bằng sông Cửu Long đến trung tâm logistics, hệ thống phân phối tại TP.HCM và thị trường xuất khẩu.
Để thúc đẩy quá trình này, Sở Công Thương Vĩnh Long kiến nghị Bộ Công Thương làm đầu mối kết nối các địa phương, hệ thống phân phối lớn, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất khẩu; đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin về nhu cầu phân phối, tiêu chuẩn và chuỗi cung ứng.
Với các tỉnh, thành phía Nam, Vĩnh Long đề xuất chuyển từ hội chợ và sự kiện đơn lẻ sang các chương trình liên kết theo nhóm ngành hàng, có doanh nghiệp đầu mối và hợp đồng tiêu thụ cụ thể. Hiệu quả kết nối cần được đánh giá bằng số hợp đồng được ký kết, thay vì chỉ dựa vào số gian hàng hoặc số doanh nghiệp tham gia.
Từ thực tế triển khai, bài toán của Vĩnh Long không còn dừng ở việc tìm thêm thị trường. Yêu cầu đặt ra là xây dựng được chuỗi cung ứng đủ năng lực đáp ứng đơn hàng, bảo đảm tiêu chuẩn và duy trì chất lượng trong thời gian dài.
Khi doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các khâu thu mua, chế biến, phân phối và xuất khẩu, giá trị giữ lại tại địa phương có thể được cải thiện. Nhưng để đạt mục tiêu đó, việc kết nối phải đi kèm hợp đồng thực chất, hạ tầng phù hợp và cơ chế chia sẻ thông tin giữa các bên.
Liên kết vùng tạo điều kiện mở rộng thị trường; doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức chuỗi; logistics bảo đảm dòng hàng; dữ liệu và truy xuất nguồn gốc hỗ trợ kiểm soát chất lượng. Đây là những yếu tố quyết định khả năng đưa nông sản Vĩnh Long từ lợi thế sản xuất thành lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.