Vướng mắc thuế GTGT khiến doanh nghiệp nông sản 'đuối sức'
Các vướng mắc về thuế giá trị gia tăng (GTGT) đang trở thành nỗi lo chung của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, đặc biệt là các ngành hàng chủ lực như thủy sản, cà phê, ca cao, hồ tiêu, gỗ và lâm sản.
Áp lực tài chính đè nặng doanh nghiệp
Theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 9 của Luật Thuế GTGT, các sản phẩm “chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường” bị áp thuế suất 5%.
Tuy nhiên, trên thực tế, các sản phẩm nông nghiệp như cà phê, tiêu, điều, tôm, cá, gỗ nguyên liệu… chủ yếu chỉ trải qua các công đoạn sơ chế như bóc vỏ, phơi, xát, sấy… không làm phát sinh giá trị gia tăng thực chất.
Các doanh nghiệp (DN) cho rằng việc áp thuế GTGT 5% cho nhóm hàng hóa nêu trên là chưa phù hợp với bản chất của thuế GTGT - vốn chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, cơ chế “thu trước - hoàn sau” đang khiến các DN phải ứng trước một lượng vốn rất lớn cho nghĩa vụ thuế, trong khi lợi nhuận biên ở các ngành hàng này rất thấp (chỉ từ 1 - 3%). Ví dụ, ngành cà phê phải tạm nộp gần 10.000 tỉ đồng thuế GTGT mỗi năm, trong khi ngành hồ tiêu phải ứng trước tới 85 triệu USD.

Những điều trên không chỉ gây áp lực tài chính nghiêm trọng lên DN, mà còn làm tăng giá thành xuất khẩu, khiến hàng Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh.
Ngoài ra, các DN cũng nêu tình trạng hoàn thuế kéo dài cũng ảnh hưởng nặng nề đến DN.
Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, ông Phan Minh Thông - Tổng giám đốc CTCP Phúc Sinh - cho hay vấn đề hoàn thuế đang gây “nhức nhối” khi các hồ sơ kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm.
“Công ty chúng tôi chủ yếu là hàng hóa xuất khẩu và có những hồ sơ hàng chục tỉ đồng gửi đến hoàn thuế. Nhiều khi chỉ có một vài hóa đơn vài triệu đồng gặp khó khăn trong xác minh, thì hồ sơ cũng bị ách lại; hoặc có tình trạng, đối tác của chúng tôi hôm nay làm ăn bình thường, nhưng vài tháng sau họ đóng cửa, thì các hoá đơn trước đó lại quy trách nhiệm cho chúng tôi. Làm sao chúng tôi biết 3 tháng hay 6 tháng sau người bán đóng cửa hay phá sản?”, ông Thông nói.
Cũng theo ông Thông, với việc áp thuế 5% GTGT, DN thực sự lo lắng. Doanh số của công ty 1.000 - 1.200 tỉ đồng/tháng và thuế GTGT là 50 - 60 tỉ đồng/tháng; trong khi hoàn thuế lại kéo dài, có khi lên đến hàng năm thì DN làm sao có thể kinh doanh?
Tại một hội thảo gần đây, ông Lê Đức Huy, Chủ tịch HĐTV Công ty Simexco Đắk Lắk cũng cho biết ngành cà phê vừa trải qua một năm thắng lợi lớn với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 8,4 tỉ USD. Tuy nhiên, từ ngày 1.7.2024, khi Luật Thuế GTGT 2024 có hiệu lực, quy định DN xuất khẩu phải tạm nộp 5% thuế GTGT rồi chờ hoàn lại đã trở thành "điểm nghẽn" nghiêm trọng.
Theo ông Huy, việc hoàn thuế đang bị ách tắc khiến DN phải ứng vốn quá lớn, vượt xa khả năng tài chính thực tế.
“Doanh số xuất khẩu khoảng 18.000 tỉ đồng mỗi năm, như vậy phải tạm nộp tới 900 tỉ đồng tiền thuế GTGT, trong khi vốn điều lệ của công ty chỉ 400 tỉ đồng. Nếu tình hình hoàn thuế vẫn chậm chạp, DN sẽ không dám đẩy mạnh xuất khẩu nữa mà quay về tập trung thị trường nội địa", ông Huy lo ngại.
Không chỉ ngành cà phê, các ngành nông sản xuất khẩu chủ lực khác như gạo, tiêu, điều, thủy sản và gỗ cũng đang đối mặt áp lực tương tự. Không ít DN các ngành này đang tồn đọng hàng trăm tỉ đồng tiền thuế GTGT.
Cần cải cách mạnh mẽ thủ tục hoàn thuế
Theo ông Phan Minh Thông, nếu cơ quan thuế nhận hồ sơ hoàn thuế của DN, khi có một vài hóa đơn nhỏ lẻ cần kiểm tra thì nên ưu tiên xử lý những cái đúng và lớn trước, rồi kiểm tra những cái nhỏ sau.

Ông Thông cũng kiến nghị cần xác định các sản phẩm nông nghiệp sơ chế là đối tượng không chịu thuế. Điều này có thể giảm được khối lượng thủ tục và chi phí khổng lồ cho DN lẫn cơ quan quản lý.
Trong văn bản góp ý cho Thủ tướng mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề xuất khẩn trương rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến phạm vi chịu thuế GTGT đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế thông thường.
“Việc áp dụng thuế suất 5% cho nhóm hàng hóa này hiện đang tạo ra gánh nặng tài chính bất hợp lý cho DN, không phản ánh đúng bản chất của thuế GTGT – vốn chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm trong chuỗi sản xuất”, VCCI nêu.
VCCI đề nghị xem xét khôi phục (hoặc khôi phục có thời hạn) quy định “không phải kê khai, tính thuế” đối với các sản phẩm nông nghiệp sơ chế như đã từng được áp dụng tại Nghị định 209/2013/NĐ-CP.
VCCI kiến nghị ban hành danh mục cụ thể các loại “sản phẩm sơ chế thông thường” cho từng ngành hàng, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong cách hiểu và áp dụng giữa các địa phương.
Ngoài ra, cần có giải pháp đồng bộ nhằm cải cách mạnh mẽ thủ tục hoàn thuế GTGT, hướng tới đơn giản hóa quy trình, tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro cho DN; xây dựng cơ chế hoàn thuế tự động đối với các hồ sơ hợp lệ, không có dấu hiệu gian lận.

VCCI cũng nêu rằng hiện nay, phần lớn nguyên liệu đầu vào trong ngành nông nghiệp đến từ hộ nông dân nhỏ lẻ - những người không có chức năng phát hành hóa đơn VAT. Điều này gây khó khăn cho DN trong việc chứng minh nguồn gốc hợp lệ để được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Ngoài ra, yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến từng hộ dân là không khả thi, đặc biệt trong các ngành có chuỗi cung ứng phân tán như gỗ, thủy sản, lâm sản.
Bên cạnh đó, các DN xuất khẩu qua sàn thương mại điện tử như Amazon, Alibaba… hiện gặp khó khăn trong hoàn thuế do thiếu hợp đồng và chứng từ theo mẫu truyền thống. Việc chưa cho phép sử dụng dữ liệu số, hóa đơn điện tử hoặc chứng từ thay thế khiến nhiều DN không thể hoàn thuế dù hàng hóa đã xuất khẩu hợp pháp.


