Xuất khẩu hàng trăm tỉ USD, làm gì để doanh nghiệp Việt giữ lại nhiều giá trị hơn?
Thế Lâm•15/10/2026 16:09
Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, theo bà Huỳnh Đinh Thái Linh, Tổng giám đốc Công ty TNHH WTC Becamex, quy mô xuất khẩu lớn chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước nắm giữ phần giá trị tương xứng.
Doanh nghiệp Việt giữ lại được bao nhiêu giá trị xuất khẩu?
Theo số liệu năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 930,05 tỉ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỉ USD và cán cân thương mại thặng dư 20,03 tỉ USD. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu cho thấy khu vực kinh tế trong nước đóng góp 107,95 tỉ USD, tương đương 22,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 367,09 tỉ USD, chiếm 77,3%.
Những con số này phản ánh quy mô sản xuất và khả năng tham gia thương mại quốc tế của Việt Nam. Nhưng khi sản phẩm chủ yếu được làm theo đơn đặt hàng, mang thương hiệu của đối tác hoặc nhà phân phối nước ngoài, doanh nghiệp trong nước vẫn có thể gặp giới hạn trong việc quyết định giá bán, tạo dựng lòng trung thành của khách hàng và tích lũy giá trị thương hiệu.
Theo bà Linh, vấn đề không phải Việt Nam chưa xây dựng thương hiệu, mà là các yếu tố làm nên giá trị sản phẩm chưa được tổ chức thành một hệ thống tài sản có thể quản lý và khai thác thương mại. Chất lượng, nguồn gốc, tay nghề, câu chuyện sản phẩm và tiêu chuẩn sản xuất có thể đã hiện diện, nhưng chưa chắc được chuyển hóa thành lý do đủ thuyết phục để người mua quốc tế lựa chọn sản phẩm thay vì những sản phẩm khác.
“
Bài toán vì thế không chỉ nằm ở việc tăng doanh số xuất khẩu. Quan trọng hơn, doanh nghiệp Việt cần tìm cách giữ lại nhiều giá trị hơn từ mỗi sản phẩm thông qua thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu truy xuất, thiết kế, nội dung và những yếu tố tạo nên sự khác biệt trên thị trường.
Người mua quốc tế cần nhiều hơn một sản phẩm tốt
Trong giao dịch quốc tế, chất lượng sản phẩm vẫn là điều kiện nền tảng, nhưng chưa đủ để bảo đảm khả năng cạnh tranh. Theo bà Linh, nhà nhập khẩu, nhà phân phối và nhà bán lẻ còn quan tâm đến việc sản phẩm có đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu về nhãn mác, chứng nhận và xuất xứ hay không; nguồn gốc có thể truy xuất được không; câu chuyện sản phẩm có phù hợp để giới thiệu đến người tiêu dùng hay không; và các quyền liên quan đến tên gọi, nhãn hiệu, hình ảnh có được bảo đảm về mặt pháp lý hay không.
Dữ liệu sản phẩm và công cụ truy xuất nguồn gốc có thể hỗ trợ xây dựng niềm tin với khách mua quốc tế. Ảnh chụp màn hình.
Trong bối cảnh đó, tài sản vô hình trở thành một thành phần quan trọng của năng lực cạnh tranh.
Theo số liệu được bà Linh dẫn lại, tổng giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp toàn cầu vượt 97.000 tỉ USD trong năm 2025, tăng 23%; doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ được cấp phép sử dụng tài sản sở hữu trí tuệ trên toàn cầu đạt 389,8 tỉ USD trong cùng năm.
Với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, tài sản vô hình không nhất thiết phải bắt đầu từ một thương hiệu nổi tiếng toàn cầu. Đó có thể là nguồn gốc địa lý được bảo hộ, quy trình sản xuất đặc trưng, bí quyết kỹ thuật, câu chuyện về vùng nguyên liệu, thiết kế bao bì, nhãn hiệu hoặc hệ thống dữ liệu chứng minh chất lượng. Điều quan trọng là các yếu tố này phải được xác lập, bảo vệ và chuyển hóa thành giá trị mà đối tác cũng như người tiêu dùng có thể nhận biết.
Từ nước mắm Phú Quốc đến Marou: Nguồn gốc chỉ tạo giá trị khi được quản trị
Nguồn gốc và bản sắc có thể trở thành lợi thế thương mại nếu được kết nối với tiêu chuẩn, câu chuyện và cách tiếp cận thị trường phù hợp. Nước mắm Phú Quốc là một trường hợp tiêu biểu, được Liên minh châu Âu bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo cơ chế PDO. Bài học ở đây là tên gọi gắn với địa phương cần đi cùng tiêu chuẩn và cơ chế kiểm soát. Nguồn gốc không chỉ là thông tin giới thiệu mà còn có thể trở thành tài sản giúp phân biệt sản phẩm với những hàng hóa cùng loại.
Với sôcôla Marou, câu chuyện về cacao Việt Nam và vùng nguyên liệu được sử dụng để xây dựng trải nghiệm sản phẩm khác biệt. Trong khi đó, trường hợp gạo ST25 cho thấy giải thưởng có thể giúp sản phẩm thu hút sự chú ý, nhưng để duy trì lợi thế thương mại, doanh nghiệp còn cần kiến trúc thương hiệu và chiến lược khai thác quyền phù hợp. Một trường hợp khác là gạo Thai Hom Mali của Thái Lan, nơi chỉ dẫn địa lý được kết nối với hoạt động xây dựng thương hiệu và xuất khẩu, trong đó có thị trường Bắc Mỹ.
“
Câu hỏi trọng tâm: Khi Việt Nam đã xuất khẩu ở quy mô lớn, doanh nghiệp Việt làm thế nào để nắm giữ lợi nhuận, niềm tin và ký ức thị trường?
Bà Huỳnh Đinh Thái Linh - Tổng giám đốc Công ty TNHH WTC Becamex
Từ những ví dụ này, bà Linh đề xuất ba hướng chiến lược để doanh nghiệp Việt nâng cấp giá trị xuất khẩu.
Thứ nhất, tự xây dựng tài sản tạo dựng niềm tin thông qua nguồn gốc, tiêu chuẩn, tay nghề và bằng chứng về chất lượng. Cách làm này giúp doanh nghiệp chủ động tạo dựng lợi thế riêng, dù đòi hỏi đầu tư dài hạn vào thương hiệu, quản trị và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, tiếp nhận quyền sử dụng tài sản sở hữu trí tuệ thông qua các thỏa thuận cấp phép với thương hiệu quốc tế. Đây là một hướng để doanh nghiệp chuyển từ mô hình gia công OEM/ODM sang sản xuất sản phẩm được cấp phép sử dụng thương hiệu hoặc tài sản trí tuệ.
Thứ ba, đồng kiến tạo giá trị với đối tác quốc tế trên nền tảng nguồn gốc Việt Nam. Thay vì chỉ bán nguyên liệu hoặc nhận gia công, doanh nghiệp có thể cùng đối tác phát triển sản phẩm, câu chuyện, cách sử dụng và hệ thống phân phối, kết hợp bản sắc Việt với năng lực thương mại toàn cầu.
Biến tài sản trí tuệ thành giá trị thương mại
Để chuyển từ “Made in Vietnam” (sản xuất tại Việt Nam) sang “Trusted by the World” (được thế giới tin chọn), theo bà Linh, doanh nghiệp không thể chỉ đầu tư vào quảng cáo. Niềm tin phải được chứng minh bằng chất lượng ổn định, nguồn gốc minh bạch, quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường. Một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn không thể thay thế những bằng chứng này. Ngược lại, chất lượng và nguồn gốc cần được diễn đạt thành giá trị mà người mua dễ hiểu, dễ kiểm chứng và sẵn sàng trả tiền.
Điều đó cũng đòi hỏi doanh nghiệp thay đổi cách nhìn về tài sản trí tuệ. Nhãn hiệu, thiết kế, nội dung sáng tạo, nhân vật biểu tượng và di sản văn hóa không chỉ phục vụ hoạt động quảng bá mà còn có thể trở thành nền tảng cho các mô hình kinh doanh như cấp phép thương mại, phát triển sản phẩm mới, nhượng quyền và mở rộng hệ sinh thái tiêu dùng.
Dù vậy, khả năng thương mại hóa còn phụ thuộc vào việc xác lập quyền sở hữu, định giá tài sản, lựa chọn đối tác, xây dựng hợp đồng cấp phép và bảo đảm năng lực sản xuất, phân phối. Không phải mọi yếu tố văn hóa đều tự động trở thành tài sản có giá trị thị trường. Doanh nghiệp cần xác định câu chuyện nào có thể tạo khác biệt, nhóm khách hàng nào sẵn sàng đón nhận và mô hình kinh doanh nào có thể duy trì lợi nhuận.
Với doanh nghiệp Việt Nam, bước chuyển từ năng lực sản xuất sang năng lực sở hữu giá trị không thể diễn ra trong một sớm một chiều. Nhưng khi thương hiệu, nguồn gốc, tiêu chuẩn và tài sản trí tuệ được quản trị bài bản, hàng hóa Việt Nam có cơ hội giảm phụ thuộc vào cạnh tranh thuần túy về giá, tăng khả năng tiếp cận người mua quốc tế và giữ lại phần giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng. Để được thế giới tin chọn, hàng hóa Việt Nam cần tạo ra những giá trị có nguồn gốc rõ ràng, được bảo vệ và đủ sức thuyết phục thị trường toàn cầu.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.