Nhịp đập công nghệ

Ấn Độ gặp khó khi xây ngành nam châm đất hiếm và bài học cho Việt Nam

Bùi Tú 11/08/2026 08:22

Ấn Độ đang tung ra gói hỗ trợ 72,8 tỉ rupee nhằm xây dựng ngành nam châm đất hiếm trong nước, thu hút sự quan tâm của cả doanh nghiệp nội địa lẫn quốc tế.

Tuy nhiên, các doanh nghiệp cho rằng mô hình chỉ chọn tối đa 5 nhà sản xuất, yêu cầu tích hợp toàn bộ chuỗi từ oxit đất hiếm đến nam châm và phụ thuộc vào trợ cấp trong 5 năm có thể khiến ngành mới khó đạt quy mô đủ lớn để cạnh tranh với nam châm đất hiếm Trung Quốc.

nam châm đất hiếm
Ấn Độ gặp khó khi xây ngành nam châm đất hiếm cạnh tranh với Trung Quốc

Ấn Độ muốn xây chuỗi cung ứng nam châm đất hiếm từ A đến Z

Tháng 11, Ấn Độ công bố chương trình phát triển nam châm đất hiếm với tổng ngân sách 72,8 tỉ rupee, tương đương khoảng 765 triệu USD. Mục tiêu là hình thành công suất sản xuất 6.000 tấn nam châm mỗi năm, bao phủ toàn bộ chuỗi từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.

Theo thiết kế chương trình, tối đa 5 doanh nghiệp sẽ được lựa chọn, mỗi doanh nghiệp có công suất không quá 1.200 tấn/năm. Phần lớn khoản hỗ trợ sẽ được giải ngân dưới dạng ưu đãi gắn với doanh số thực tế sau khi các nhà máy đi vào hoạt động.

Động thái này được đưa ra sau khi Trung Quốc, quốc gia đang chiếm khoảng 90% công suất tinh luyện đất hiếm toàn cầu, áp dụng các biện pháp kiểm soát cấp phép xuất khẩu đối với một số nguyên tố đất hiếm trung và nặng vào tháng 4/2025. Chính sách của Bắc Kinh đã gây xáo trộn chuỗi cung ứng nhiều ngành công nghiệp trên thế giới.

Nam châm đất hiếm là thành phần quan trọng trong nhiều công nghệ chiến lược, từ xe điện, turbine điện gió đến thiết bị quốc phòng và các hệ thống điện tử. Giới doanh nghiệp nhìn chung hoan nghênh chương trình của New Delhi. Sau nhiều năm phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, việc xây dựng năng lực sản xuất trong nước được xem là bước đi cần thiết để Ấn Độ hình thành một hệ sinh thái đất hiếm hoàn chỉnh.

Tuy nhiên, vấn đề nằm ở cách Ấn Độ lựa chọn xây dựng hệ sinh thái đó. Các doanh nghiệp cho rằng thay vì buộc từng nhà máy phải tự thực hiện toàn bộ chuỗi sản xuất, Ấn Độ nên tập trung phát triển quy mô ở từng công đoạn. Đây là mô hình mà Trung Quốc đã áp dụng trong thời gian dài, qua đó tạo ra những doanh nghiệp chuyên môn hóa và đạt quy mô lớn ở từng mắt xích.

Tarun Singhal, Giám đốc Lohum, cho rằng Trung Quốc đã “phân chia” sản xuất thành nhiều công đoạn để tận dụng lợi thế quy mô. Trong khi đó, mô hình của Ấn Độ yêu cầu một nhà sản xuất nam châm phải bắt đầu từ oxit đất hiếm và kết thúc ở sản phẩm nam châm. Điều này có thể khiến các doanh nghiệp Ấn Độ khó đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô như các đối thủ Trung Quốc.

Sự chênh lệch về quy mô đặc biệt rõ rệt khi đặt mục tiêu 6.000 tấn của chương trình Ấn Độ bên cạnh năng lực sản xuất tại Trung Quốc. Singhal cho biết từng chứng kiến một nhà máy Trung Quốc sản xuất tới 40.000 tấn bột nam châm mỗi năm. Ấn Độ vì thế đang đứng trước một nghịch lí: Muốn nhanh chóng tự chủ chuỗi cung ứng nhưng lại có nguy cơ xây dựng những nhà máy quá nhỏ để cạnh tranh.

Thiếu nguyên liệu, thiết bị và cả nhân lực chuyên môn

Quy mô không phải trở ngại duy nhất. Ấn Độ sở hữu trữ lượng đất hiếm lớn thứ ba thế giới, nhưng lại thiếu năng lực tinh luyện đủ lớn để biến quặng thành oxit đất hiếm, nguyên liệu đầu vào cho các công đoạn tiếp theo. Chuỗi sản xuất nam châm có thể được hình dung qua nhiều bước: đất hiếm được tinh luyện thành oxit, sau đó chuyển thành kim loại, hợp kim, bột và cuối cùng là nam châm thành phẩm.

Hiện Indian Rare Earths Ltd. (IREL), doanh nghiệp nhà nước, là nhà sản xuất oxit đất hiếm quy mô thương mại duy nhất của Ấn Độ. IREL đã cam kết nâng công suất lên 500 tấn oxit mỗi năm. Nhưng con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với nhu cầu dự kiến của 5 nhà sản xuất trong chương trình, ước tính tổng cộng khoảng 1.500-1.700 tấn. Điều đó đồng nghĩa các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn nguyên liệu từ nước ngoài. Lohum đang xem xét các thỏa thuận khai thác tại Myanmar, Việt Nam và Lào.

Thiết bị cũng là một điểm nghẽn. Khi Mỹ và nhiều quốc gia khác đồng thời tìm cách giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, nhu cầu xây dựng các nhà máy đất hiếm tăng nhanh. Nhưng số lượng nhà cung cấp thiết bị chuyên dụng lại không nhiều. Gaurav Shukla, Phó Tổng giám đốc N.A.N. MagneTech, cho biết thời gian giao thiết bị đang bị kéo dài do nhiều dự án ở Mỹ cùng đặt hàng từ những nhà cung cấp giống nhau.

Việc phải tích hợp toàn bộ chuỗi sản xuất càng làm vấn đề phức tạp, bởi mỗi công đoạn cần một loại máy móc khác nhau. Nhiều doanh nghiệp Ấn Độ đang tìm tới nhà cung cấp Nhật Bản ULVAC, công ty được cho là chiếm hơn 70% thị trường lò thiêu kết chân không và lò nấu chảy chân không, những thiết bị quan trọng trong quá trình tạo hợp kim và sản xuất nam châm.

N.A.N. MagneTech, với phần lớn thiết bị được mua từ Nhật Bản, dự kiến phải chờ khoảng 15 tháng. Trong khi đó, Lohum sử dụng nhiều thiết bị của ULVAC được sản xuất tại Trung Quốc và có thời gian chờ khoảng 6-7 tháng.

Chi phí cũng là vấn đề. Theo Singhal, mua thiết bị từ Nhật Bản có thể đắt gấp ba lần so với nguồn cung từ Trung Quốc. Những khó khăn này cho thấy việc xây dựng một ngành công nghiệp đất hiếm không đơn giản là xây nhà máy. Ấn Độ cần đồng thời giải quyết nguồn nguyên liệu, công nghệ, thiết bị, nhân lực và thị trường đầu ra.

Trợ cấp có thể tạo ngành mới, nhưng chưa chắc tạo được doanh nghiệp đủ lớn

Một trong những điểm gây tranh luận nhất là quy mô 1.200 tấn/năm dành cho mỗi doanh nghiệp. N.A.N. MagneTech cho biết mục tiêu dài hạn của công ty là nâng công suất lên 10.000 tấn, cao hơn nhiều so với mức 1.200 tấn được chương trình hỗ trợ. Nhưng để đầu tư mở rộng, doanh nghiệp cần có khả năng dự báo dài hạn về nguồn cung oxit và biên lợi nhuận, đặc biệt khi các ưu đãi kết thúc.

Đây là rủi ro đáng chú ý của chương trình. Nếu doanh nghiệp chỉ có thể cạnh tranh nhờ trợ cấp trong 5 năm đầu, câu hỏi là điều gì sẽ xảy ra sau khi dòng hỗ trợ kết thúc?

Một ngành công nghiệp chiến lược không chỉ cần nhà máy hoạt động. Nó cần những doanh nghiệp có thể tồn tại khi không còn trợ cấp và đủ quy mô để cạnh tranh về giá, chất lượng và công nghệ với các đối thủ toàn cầu.

Yêu cầu về tài chính cũng tạo ra một vấn đề khác. Do chi phí đầu tư cho chuỗi sản xuất tích hợp rất lớn, chương trình đặt ra yêu cầu về giá trị tài sản ròng nhằm bảo đảm các doanh nghiệp có đủ nguồn vốn. Nhưng tiêu chí này lại có thể loại bỏ những doanh nghiệp nhỏ hơn, dù họ sở hữu năng lực công nghệ cần thiết.

Mecwin Technologies là một ví dụ. Đồng sáng lập Shiva Kumar đã dành nhiều năm nghiên cứu nam châm phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Trong gần một thập kỉ, ông thường xuyên tới Trung Quốc để nghiên cứu và phát triển sản phẩm cùng các đối tác nhà máy tại đây.

Sau khi Trung Quốc siết xuất khẩu, Mecwin hợp tác với Viện Fraunhofer IWKS của Đức để phát triển chuỗi giá trị hoàn chỉnh, đổi lại 30% sản lượng. Nhưng yêu cầu giá trị tài sản ròng từ 1,8-3,75 tỉ rupee khiến công ty không đủ điều kiện nhận ưu đãi.

“Tôi không có mức tài sản ròng đó. Tôi phải lấy nó ở đâu?”, Kumar đặt câu hỏi. Trường hợp này phản ánh một nghịch lí khác: chính sách muốn tạo ra những doanh nghiệp đủ mạnh để cạnh tranh toàn cầu nhưng có thể vô tình loại bỏ những doanh nghiệp đang sở hữu kiến thức chuyên môn mà Ấn Độ đang thiếu.

Dù vậy, các doanh nghiệp tin rằng thị trường trong nước có thể tạo nền tảng cho ngành mới. N.A.N. MagneTech và Lohum đã bắt đầu thảo luận với các nhà sản xuất linh kiện và thiết bị Ấn Độ để bảo đảm đầu ra.

Nếu các nhà sản xuất ô tô điện, thiết bị điện, turbine gió và quốc phòng cam kết mua sản phẩm nội địa ngay cả với mức giá cao hơn trong giai đoạn đầu, ngành nam châm đất hiếm của Ấn Độ sẽ có cơ hội hình thành. Nhưng về dài hạn, Ấn Độ vẫn phải giải bài toán quy mô.

Câu chuyện của Ấn Độ cho thấy xây dựng ngành đất hiếm không thể chỉ dừng ở khai thác tài nguyên hay hỗ trợ một số nhà máy đầu cuối. Việt Nam cần sớm hình thành chuỗi giá trị từ khai thác, tinh luyện, vật liệu đến sản phẩm công nghệ, đồng thời khuyến khích chuyên môn hóa để tạo lợi thế quy mô thay vì buộc doanh nghiệp phải làm tất cả. Chính sách hỗ trợ cũng cần đủ dài hạn, gắn với năng lực công nghệ và thị trường đầu ra, để doanh nghiệp có thể cạnh tranh sau khi ưu đãi kết thúc. Quan trọng hơn, cần phát triển nhân lực và công nghệ trong nước, tránh thay thế sự phụ thuộc này bằng một sự phụ thuộc khác.

Nổi bật
      Mới nhất
      Ấn Độ gặp khó khi xây ngành nam châm đất hiếm và bài học cho Việt Nam
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO