Kinh tế

‘Đầu tư cùng Việt Nam’: Đừng chỉ mang vốn đến, hãy cùng tạo ra giá trị

Đình Long • 03/11/2026 17:49

Để thông điệp “đầu tư cùng Việt Nam” đi vào thực tế, điều quan trọng không chỉ nằm ở cam kết của nhà đầu tư nước ngoài mà còn ở năng lực của doanh nghiệp nội địa và cách thức kiến tạo chính sách của Nhà nước.

Tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 diễn ra mới đây, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng gửi đi một thông điệp đáng chú ý: Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ “đầu tư tại Việt Nam” mà còn “đầu tư cùng Việt Nam”; không chỉ sản xuất tại Việt Nam mà còn cùng nghiên cứu và phát triển (R&D), thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kiến tạo những chuỗi giá trị mới có sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu.

thu tuong
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đối thoại với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler. Ảnh: BTC

Đây không đơn thuần là sự thay đổi trong cách diễn đạt về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Đằng sau thông điệp ấy là một yêu cầu lớn hơn: Việt Nam cần chuyển từ chỗ chủ yếu tiếp nhận vốn, công nghệ và tổ chức sản xuất sang chủ động tham gia vào quá trình tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị gia tăng.

“

Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ “đầu tư tại Việt Nam” mà còn “đầu tư cùng Việt Nam”

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

Nghịch lý phía sau những con số xuất khẩu

Trong nhiều năm, FDI đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Dòng vốn này góp phần mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Những nhà máy điện tử, cơ sở sản xuất linh kiện, thiết bị công nghiệp và hàng tiêu dùng của các tập đoàn đa quốc gia đã góp phần thay đổi diện mạo nhiều địa phương.

Tuy nhiên, đằng sau thành tích xuất khẩu ngày càng lớn vẫn tồn tại một nghịch lý: khu vực FDI phát triển mạnh nhưng mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu chưa tương xứng.

Intel đã đầu tư dự án nhà máy kiểm thử và đóng gói chip hàng tỉ USD tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP). Ảnh tư liệu
Intel đã đầu tư dự án nhà máy kiểm thử và đóng gói chip hàng tỉ USD tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP). Ảnh tư liệu

Theo báo cáo “Việt Nam 2045: Nâng cao vị thế thương mại trong một thế giới thay đổi” của Ngân hàng Thế giới (WB), doanh nghiệp nước ngoài chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu đã giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% năm 2023. WB cũng nhận định mô hình xuất khẩu của Việt Nam vẫn tập trung đáng kể ở khâu lắp ráp cuối cùng, trong khi giá trị thu được trong nước còn hạn chế

Những con số này đặt ra câu hỏi không nhỏ: Sau nhiều thập niên thu hút FDI, doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự lớn lên đến đâu từ quá trình hợp tác với các tập đoàn nước ngoài?

Một chiếc điện thoại xuất khẩu có thể mang nhãn hiệu của một tập đoàn toàn cầu, được sản xuất tại Việt Nam và góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu. Nhưng nếu phần lớn công nghệ, linh kiện có giá trị cao, thiết kế và những khâu quyết định giá trị sản phẩm vẫn nằm ngoài năng lực của doanh nghiệp Việt Nam thì đóng góp của nền kinh tế trong nước vẫn chưa tương xứng với quy mô sản xuất.

Vấn đề không nằm ở chỗ FDI xuất khẩu nhiều hay ít, mà ở chỗ nền kinh tế Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị, doanh nghiệp trong nước tham gia được những công đoạn nào và có thêm năng lực gì sau mỗi chu kỳ hợp tác.

Đó cũng là lý do việc chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam” có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn phát triển mới.

“

Sau nhiều thập niên thu hút FDI, doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự lớn lên đến đâu từ quá trình hợp tác với các tập đoàn nước ngoài?

Không chỉ là nơi đặt nhà máy

Theo TS Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, trước đây Việt Nam thiếu vốn nhưng có lao động và tài nguyên nên chủ yếu thu hút doanh nghiệp nước ngoài đến khai thác tài nguyên, sử dụng lao động và mặt bằng trong nước. Doanh nghiệp FDI mang vốn, công nghệ vào, nhập khẩu các yếu tố đầu vào để sản xuất rồi xuất khẩu sản phẩm.

Cách thức này giúp Việt Nam thu hút được nguồn lực bên ngoài, nhưng cũng khiến hoạt động của một bộ phận doanh nghiệp FDI tương đối tách biệt với khu vực doanh nghiệp trong nước.

“Doanh nghiệp nước ngoài đóng vai trò dẫn dắt nhưng doanh nghiệp trong nước phải được tham gia, cùng làm và cùng kiến tạo một hệ sinh thái sản xuất”, TS Điền phân tích.

Theo ông, nếu doanh nghiệp nước ngoài có thế mạnh về công nghệ và kỹ thuật thì cần tạo điều kiện để họ đặt hàng doanh nghiệp Việt Nam sản xuất linh kiện, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Thay vì nhập khẩu toàn bộ các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp FDI có thể xây dựng mạng lưới nhà cung ứng ngay tại Việt Nam.

Cách làm này đem lại lợi ích cho cả hai phía. Nhà đầu tư nước ngoài có thêm nguồn cung ứng gần, thuận tiện trong phối hợp sản xuất; doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường, nâng cao năng lực công nghệ và quản trị. Xa hơn, sự hợp tác có thể tạo nên nền tảng công nghiệp vững chắc thay vì chỉ hình thành những cơ sở sản xuất hoạt động tương đối độc lập.

Đáng chú ý, đây không phải là câu chuyện chỉ có lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục được tái cấu trúc, một hệ sinh thái nhà cung ứng tại chỗ có năng lực, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế cũng là lợi thế của chính các tập đoàn nước ngoài.

Báo cáo đánh giá chất lượng FDI tại Việt Nam năm 2026 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cũng chỉ ra rằng chất lượng đầu tư cần được nhìn nhận qua khả năng cải thiện năng suất, chuyển giao tri thức, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao lợi ích cho người lao động, thay vì chỉ tập trung vào quy mô vốn.

OECD cho biết đầu tư mới vào hoạt động R&D của doanh nghiệp FDI còn khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 2% chi tiêu vốn trong giai đoạn 2020-2024. Trong khi đó, mô hình FDI dựa nhiều vào lắp ráp, sản xuất có giá trị gia tăng thấp đang bộc lộ giới hạn về khả năng thúc đẩy năng suất.

Điều này cho thấy muốn nâng chất lượng FDI, Việt Nam không thể chỉ trông chờ vào việc các tập đoàn nước ngoài tự động mở rộng hợp tác với doanh nghiệp nội địa. Cần có những cơ chế kết nối, hỗ trợ và khuyến khích đủ cụ thể để sự hợp tác ấy trở thành một phần trong chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư.

“

Mô hình FDI dựa nhiều vào lắp ráp, sản xuất có giá trị gia tăng thấp đang bộc lộ giới hạn về khả năng thúc đẩy năng suất.

Doanh nghiệp Việt phải đủ sức cùng làm

Một trong những lý do thường được các doanh nghiệp nước ngoài đưa ra khi nói về hạn chế liên kết với doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung ứng trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, công nghệ, tiến độ và tiêu chuẩn sản xuất.

samsung-khu-vuc-kinh-te-dau-tu-nuoc-ngoai-fdi-2.jpg
Nhà máy Samsung tại SHTP. Ảnh tư liệu

Theo TS Huỳnh Thanh Điền, thực tế này có tồn tại. Doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia sản xuất, cung ứng cho các tập đoàn nước ngoài thì phải đầu tư công nghệ, nâng cấp năng lực. Không thể yêu cầu đối tác đặt hàng nếu doanh nghiệp trong nước chưa đủ khả năng thực hiện.

Vì vậy, theo ông, cần có những chương trình kích cầu và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa đầu tư công nghệ. Những doanh nghiệp có kế hoạch nâng cấp năng lực sản xuất để tham gia chuỗi cung ứng của FDI cần được hỗ trợ chi phí lãi vay, đào tạo và một số khoản đầu tư cần thiết.

Ông cũng cho rằng lãi suất cho vay cao đang là một trở ngại đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh. Khi chi phí vốn lớn, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư máy móc, công nghệ và mở rộng sản xuất. Do đó, chính sách hỗ trợ lãi vay và tạo điều kiện tiếp cận vốn cần được quan tâm.

Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính chỉ là một phần. Doanh nghiệp Việt còn phải cải thiện quản trị, năng lực nghiên cứu, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng những đơn hàng có yêu cầu cao. Nếu không có sự chuẩn bị từ chính doanh nghiệp, cơ hội kết nối với các tập đoàn đa quốc gia cũng khó chuyển thành hợp đồng thực chất.

Đây là điểm cần nhìn nhận một cách công bằng. Không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp FDI mở rộng hợp tác, trong khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đầu tư đủ để đáp ứng yêu cầu của đối tác. Ngược lại, cũng không thể mặc nhiên xem việc doanh nghiệp nội địa chưa đủ năng lực là lý do để các tập đoàn nước ngoài duy trì những chuỗi cung ứng khép kín mà không có nỗ lực tìm kiếm, phát triển nhà cung cấp tại chỗ.

Muốn hai bên cùng làm, cả hai đều phải có động lực và cùng nhìn thấy lợi ích lâu dài.

“

Nếu không có sự chuẩn bị từ chính doanh nghiệp nội địa, cơ hội kết nối với các tập đoàn đa quốc gia cũng khó chuyển thành hợp đồng thực chất.

diwn dan kinh te mua thu 3
Các đại biểu Tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 diễn ra mới đây. Ảnh tư liệu

Chính phủ phải kiến tạo những cuộc hợp tác cụ thể

Từ góc nhìn của TS Huỳnh Thanh Điền, điều kiện quan trọng nhất để biến thông điệp “đầu tư cùng Việt Nam” thành hiện thực là vai trò kiến tạo của Chính phủ.

Theo ông, Chính phủ cần xác định rõ những lĩnh vực Việt Nam cần thu hút FDI, đồng thời nhận diện những công đoạn mà doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Sự hợp tác không nên chỉ dừng ở những lời kêu gọi chung chung mà phải được cụ thể hóa bằng từng chương trình, dự án.

Chẳng hạn, trong lĩnh vực hạ tầng, nếu doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực thực hiện một số hạng mục công nghệ thì có thể thu hút doanh nghiệp nước ngoài tham gia. Tuy nhiên, cần thiết kế dự án để doanh nghiệp trong nước có cơ hội đảm nhận các phần việc phù hợp, từ cung ứng thiết bị, sản xuất linh kiện đến thi công, vận hành và bảo trì.

“Chính phủ phải kiến tạo bằng những chương trình, dự án cụ thể. Cái gì doanh nghiệp trong nước làm, cái gì doanh nghiệp nước ngoài làm”, TS Điền nhấn mạnh.

Một vấn đề khác là chính sách ưu đãi đầu tư. Theo TS Điền, không nên tiếp tục áp dụng ưu đãi FDI theo cách dàn trải, thiếu phân biệt giữa các dự án có mức độ đóng góp khác nhau cho nền kinh tế. Cần hướng ưu đãi vào những hoạt động tạo ra giá trị lâu dài như hợp tác với doanh nghiệp trong nước, đầu tư công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng.

Quan điểm này cũng có điểm gặp gỡ với khuyến nghị của OECD. Tổ chức này cho rằng Việt Nam cần chuyển dần từ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mang tính đại trà sang những hình thức hỗ trợ có mục tiêu, gắn với chi phí nghiên cứu và phát triển, đào tạo lao động và công nghệ xanh. Đồng thời, cần tăng cường các chương trình phát triển nhà cung cấp và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa kết nối với tập đoàn đa quốc gia.

Cùng với đó, lời kêu gọi đầu tư vào nghiên cứu và phát triển cần đi kèm những điều kiện thực chất. Thủ tướng đã đề xuất thúc đẩy quan hệ đối tác cùng sáng tạo giữa các tập đoàn quốc tế với địa phương và doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời khuyến khích hợp tác trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, đào tạo nhân lực số và công nghệ chiến lược.

“

“Chính phủ phải kiến tạo bằng những chương trình, dự án cụ thể. Cái gì doanh nghiệp trong nước làm, cái gì doanh nghiệp nước ngoài làm”

TS Huỳnh Thanh Điền

diwn dan kinh te mua thu 2
Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Công Vinh bắt tay, trao đổi với đại diện doanh nghiệp tại khu vực triển lãm bên lề Diễn đàn Kinh tế Mùa thu năm 2026, sáng 27-10, tại TPHCM. Ảnh tư liệu

Muốn những đề xuất này thành hiện thực, Việt Nam cần phát triển các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm, cơ chế thử nghiệm công nghệ và chương trình hợp tác giữa doanh nghiệp với trường đại học, viện nghiên cứu. Quan trọng hơn, các dự án R&D phải gắn với nhu cầu sản xuất, khả năng thương mại hóa và sự tham gia của đội ngũ chuyên gia, kỹ sư Việt Nam.

Một tập đoàn mở nhà máy tại Việt Nam có thể tạo ra hàng nghìn việc làm. Nhưng một tập đoàn cùng trường đại học trong nước nghiên cứu sản phẩm mới, đào tạo kỹ sư, phát triển công nghệ và hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng sẽ để lại những năng lực có thể tiếp tục phát huy lâu dài.

Đo thành công bằng giá trị ở lại

Thông điệp “đầu tư cùng Việt Nam” chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những kết quả có thể đo lường.

Thực tế, Việt Nam không thiếu những lợi thế để thu hút đầu tư. Quy mô thị trường, vị trí trong chuỗi cung ứng khu vực, mạng lưới hiệp định thương mại tự do và lực lượng lao động là những yếu tố quan trọng. Nhưng lợi thế ấy sẽ không tự động chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp trong nước vẫn đứng ngoài những khâu tạo ra giá trị cao.

Vì vậy, chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam” không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của FDI hay đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài phải chia sẻ mọi thứ. Đó là cách tiếp cận hướng đến lợi ích lâu dài và sự phát triển cân bằng hơn giữa nhà đầu tư quốc tế với nền kinh tế tiếp nhận đầu tư.

Việt Nam cần những nhà đầu tư không chỉ nhìn thấy lợi thế về chi phí, lao động và thị trường, mà còn nhìn thấy cơ hội cùng phát triển công nghệ, nhân lực, sản phẩm và hệ sinh thái kinh doanh. Nhưng để trở thành đối tác như vậy, doanh nghiệp Việt Nam cũng phải tự nâng cấp năng lực, chủ động tìm kiếm cơ hội và chứng minh khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Sau cùng, thành công của thu hút FDI không chỉ được đo bằng số vốn đã vào Việt Nam hay lượng hàng hóa đã xuất khẩu. Điều đáng quan tâm hơn là sau mỗi dự án, doanh nghiệp trong nước có trưởng thành hơn không, người lao động có kỹ năng cao hơn không, công nghệ có được làm chủ thêm không và nền kinh tế có giữ lại được nhiều giá trị hơn không.

Đó mới là thước đo cho một giai đoạn thu hút đầu tư mới. Đó là không chỉ có thêm những nhà máy đặt trên đất Việt Nam, mà còn có thêm những doanh nghiệp Việt đủ sức cùng làm, cùng sáng tạo và cùng bước vào những nấc thang cao hơn của chuỗi giá trị toàn cầu.

“

Việt Nam cần những nhà đầu tư không chỉ nhìn thấy lợi thế về chi phí, lao động và thị trường, mà còn nhìn thấy cơ hội cùng phát triển công nghệ, nhân lực, sản phẩm và hệ sinh thái kinh doanh

Nổi bật
      Mới nhất
      ‘Đầu tư cùng Việt Nam’: Đừng chỉ mang vốn đến, hãy cùng tạo ra giá trị
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO