Kinh tế

Để biến nâng hạng chứng khoán thành cơ hội hút chục tỉ đô dòng vốn ngoại

Thuỳ Linh 17/09/2026 15:04

Về dài hạn, room ngoại vẫn là một nút thắt cần được giải quyết căn cơ nếu Việt Nam muốn thu hút mạnh hơn các dòng vốn quốc tế mang tính chiến lược và dài hạn.

Chỉ còn vài ngày nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên nhóm thị trường mới nổi thứ cấp. Đây được xem là bước chuyển quan trọng, giúp thị trường Việt Nam tiếp cận rộng hơn với dòng vốn quốc tế.

Tuy nhiên, theo TS Huỳnh Trung Minh, chuyên gia kinh tế, nâng hạng mới chỉ là bước khởi đầu. Trao đổi với Tạp chí Một Thế Giới, ông cho rằng khả năng chuyển cơ hội này thành dòng vốn thực tế, đặc biệt là dòng vốn dài hạn, còn phụ thuộc vào tiến trình cải cách thị trường, chất lượng doanh nghiệp và mức độ đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.

TS- Huynh- Trung- Minh- ve-chung-khoan 2
TS Huỳnh Trung Minh: Tác động bền vững của nâng hạng sẽ là một quá trình, thay vì diễn ra ngay sau thời điểm thị trường được nâng hạng. Ảnh: T.L

Dòng vốn ngoại sẽ không vào ngay sau nâng hạng

-Phóng viên: Việc nâng hạng đang tạo ra nhiều kỳ vọng đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo ông, đâu là những tác động có thể đem lại trong ngắn hạn, còn đâu mới là những thay đổi mang tính nền tảng mà thị trường có thể kỳ vọng trong trung hạn?

-TS Huỳnh Trung Minh: Tác động quan trọng nhất của việc nâng hạng nằm ở sự dịch chuyển của dòng vốn quốc tế, nhưng cần phân biệt khá rõ giữa ngắn hạn và trung hạn.

Trong ngắn hạn, tác động dễ nhận thấy hơn đến từ dòng vốn thụ động, chủ yếu thông qua các quỹ ETF. Khi Việt Nam chính thức được đưa vào rổ chỉ số thị trường mới nổi, các quỹ ETF tham chiếu các chỉ số này sẽ phải cơ cấu danh mục và mua những cổ phiếu Việt Nam đủ điều kiện theo tỷ trọng được xác định. Dòng tiền này có thể giúp gia tăng thanh khoản và hỗ trợ mặt bằng định giá của thị trường.

Tuy nhiên, tác động đáng chú ý hơn trong trung hạn lại nằm ở dòng vốn chủ động (active funds). Dòng vốn này chiếm khoảng 75-80% tổng tài sản tại các thị trường mới nổi. Khác với ETF, các quỹ chủ động không giải ngân chỉ vì Việt Nam được nâng hạng. Họ sẽ đánh giá kỹ chất lượng doanh nghiệp, thanh khoản, khả năng thoái vốn và nhiều yếu tố khác trước khi quyết định đầu tư.

Đặc điểm của dòng vốn này là thời gian nắm giữ thường kéo dài từ 3-5 năm hoặc lâu hơn. Vì vậy, nếu Việt Nam thu hút được dòng vốn chủ động, tác động của nâng hạng sẽ không chỉ dừng ở việc tăng thanh khoản, mà còn góp phần tạo nền tảng ổn định hơn cho thị trường, hạn chế những biến động do các dòng vốn đầu cơ ngắn hạn.

Vì vậy, cũng không nên kỳ vọng việc nâng hạng sẽ ngay lập tức tạo ra một đợt tăng mạnh của thị trường. Tác động ban đầu có thể chủ yếu thể hiện ở tâm lý và kỳ vọng của nhà đầu tư, trong khi dòng vốn thực tế cần thêm thời gian để dịch chuyển.

-Có thể hiểu rằng tác động bền vững của nâng hạng sẽ là một quá trình, thưa ông?

-TS Huỳnh Trung Minh: Đúng vậy. Đặc biệt là với các quỹ chủ động, việc giải ngân sẽ diễn ra thận trọng hơn. Nhà đầu tư quốc tế cần thời gian kiểm chứng những cải cách đã cam kết có thực sự được triển khai hay không, đồng thời đánh giá chất lượng doanh nghiệp, thanh khoản và khả năng thoái vốn trước khi tăng quy mô đầu tư.

Vì vậy, tác động bền vững của nâng hạng sẽ là một quá trình, thay vì diễn ra ngay sau thời điểm thị trường được nâng hạng.

Nâng hạng mở cánh cửa đón vốn quốc tế, nhưng không đồng nghĩa dòng tiền sẽ lập tức chảy mạnh vào Việt Nam. Để thu hút và giữ chân dòng vốn dài hạn, thị trường vẫn cần tháo gỡ những điểm nghẽn về hàng hóa, room ngoại và chuẩn mực doanh nghiệp.

TS Huỳnh Trung Minh

Muốn hút vốn lớn, thị trường phải có thêm “hàng hóa” chất lượng

-Nâng hạng mới chỉ là bước khởi đầu. Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những cải cách nào để cải thiện thanh khoản, gia tăng nguồn cung cổ phiếu chất lượng và biến cơ hội nâng hạng thành sức hút thực sự đối với dòng vốn dài hạn?

-TS Huỳnh Trung Minh: Đúng vậy, nâng hạng thực sự mới chỉ là bước khởi đầu. Một trong những vấn đề cần ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo là nâng chất lượng và đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường. Việt Nam cần đưa thêm những doanh nghiệp tốt, có quy mô vốn hóa lớn và triển vọng tăng trưởng lên sàn, trong đó có thể tính tới các tập đoàn nhà nước quy mô hàng tỉ USD hoạt động trong những lĩnh vực như viễn thông, dầu khí, điện lực.

Hiện cơ cấu VN-Index vẫn tập trung lớn vào hai nhóm ngân hàng và bất động sản. Nếu thị trường tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào một số ngành và một số cổ phiếu vốn hóa lớn, khả năng lựa chọn cũng như phân bổ vốn của các quỹ quốc tế sẽ bị thu hẹp. Đặc biệt, khi nhiều cổ phiếu được nhà đầu tư nước ngoài quan tâm đã kín room, dư địa để dòng vốn mới giải ngân càng hạn chế.

Vì vậy, vấn đề không chỉ là tăng số lượng doanh nghiệp niêm yết, mà quan trọng hơn là tạo thêm nguồn cung cổ phiếu đủ chất lượng, quy mô và thanh khoản. Khi thị trường có nhiều doanh nghiệp đáp ứng được những tiêu chí này, dòng vốn ngoại mới có thêm lựa chọn để giải ngân và duy trì sự hiện diện lâu dài tại Việt Nam.

Điều này đặc biệt quan trọng với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế, bởi họ thường hướng tới những doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để đáp ứng yêu cầu giải ngân và thanh khoản. Vì vậy, cùng với nâng chất lượng doanh nghiệp niêm yết, cần tạo điều kiện để thêm những doanh nghiệp lớn, trong đó có các doanh nghiệp có vốn nhà nước, tham gia thị trường. Qua đó, thị trường mới có thêm hàng hóa đủ quy mô để hấp thụ những dòng vốn lớn.

Không nên kỳ vọng việc nâng hạng sẽ lập tức tạo ra một “con sóng tăng giá” trên toàn thị trường. Ảnh: T.L
Không nên kỳ vọng việc nâng hạng sẽ lập tức tạo ra một “con sóng tăng giá” trên toàn thị trường chứng khoán, tức là cần có thời gian. Ảnh: T.L

-Nâng hạng mở rộng cơ hội tiếp cận vốn quốc tế, nhưng khả năng giải ngân sẽ bị hạn chế nếu nhiều cổ phiếu hấp dẫn đã kín room ngoại. Vậy theo ông, Việt Nam cần tháo gỡ điểm nghẽn này như thế nào để vừa mở thêm dư địa cho dòng vốn ngoại?

-TS. Huỳnh Trung Minh: Một giải pháp kỹ thuật Việt Nam có thể xem xét là NVDR - Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết. Công cụ này cho phép nhà đầu tư nước ngoài được hưởng các lợi ích kinh tế gắn với cổ phiếu, như cổ tức và phần tăng giá, nhưng không có quyền biểu quyết tại đại hội đồng cổ đông. Thái Lan đã áp dụng khá thành công cơ chế này để xử lý điểm nghẽn về giới hạn sở hữu nước ngoài.

Điểm đáng chú ý của NVDR là có thể mở thêm dư địa cho dòng vốn ngoại mà không làm thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những lĩnh vực nhạy cảm hoặc doanh nghiệp có vốn nhà nước, nơi yêu cầu duy trì quyền kiểm soát vẫn được đặt ra.

Tuy nhiên, NVDR không thể thay thế hoàn toàn việc xử lý giới hạn sở hữu nước ngoài. Đây có thể là một giải pháp giúp khơi thông thêm dòng vốn trong điều kiện hiện nay, nhưng về dài hạn, room ngoại vẫn là một nút thắt cần được giải quyết căn cơ nếu Việt Nam muốn thu hút mạnh hơn các dòng vốn quốc tế mang tính chiến lược và dài hạn.

Thiếu một chuẩn chung để so sánh khiến doanh nghiệp ViệtNam khó được định giá trên cùng mặt bằng với các doanh nghiệp quốc tế và có thể phải chấp nhận mức định giá thấp hơn.

TS.Huỳnh Trung Minh

Doanh nghiệp phải bước vào cuộc chơi chuẩn hóa

- Thưa ông, khi Việt Nam bước vào nhóm thị trường mới nổi, doanh nghiệp niêm yết sẽ phải cạnh tranh để thu hút vốn trong một “sân chơi” rộng hơn. Trên thực tế doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu gì và cần thay đổi ra sao để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư quốc tế?

-TS.Huỳnh Trung Minh: Muốn bước vào sân chơi quốc tế, Doanh nghiệp Việt phải chuẩn hóa để đáp ứng áp lực cạnh tranh quốc tế.

Chẳng hạn, một nhà quản lý danh mục toàn cầu tại New York hay London khi đọc báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việt Nam được lập theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sẽ gặp khó khăn trong việc so sánh với các doanh nghiệp khác trong khu vực và trên thế giới.

Thiếu một chuẩn chung để so sánh khiến doanh nghiệp ViệtNam khó được định giá trên cùng mặt bằng với các doanh nghiệp quốc tế và có thể phải chấp nhận mức định giá thấp hơn.

Do đó, doanh nghiệp cần từng bước chuyển sang IFRS - Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế. IFRS phản ánh tài sản theo giá trị hợp lý (fair value), tăng tính minh bạch và tạo điều kiện để báo cáo tài chính của doanh nghiệp có thể được so sánh trực tiếp trên phạm vi toàn cầu.

Trong khi đó, chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện vẫn chủ yếu dựa trên giá gốc. Nếu muốn cạnh tranh trên thị trường vốn quốc tế, khoảng cách về chuẩn mực này cần được thu hẹp.

Không chỉ IFRS, ESG cũng ngày càng trở thành một tiêu chí quan trọng trong quá trình nhà đầu tư quốc tế lựa chọn doanh nghiệp để giải ngân. Trước đây, ESG đôi khi được doanh nghiệp Việt nhìn nhận như một yếu tố giúp làm đẹp hồ sơ hoặc nâng cao hình ảnh. Nhưng hiện nay, ESG ngày càng trở thành một tiêu chí quan trọng trong bộ lọc đầu tư của các định chế tài chính và nhà đầu tư toàn cầu.

Mặc dù ESG là bộ tiêu chuẩn phi tài chính liên quan đến môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp, phản ánh mức độ phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Thế nhưng, các quỹ lớn ngày càng coi đây là một trong những điều kiện quan trọng khi xem xét giải ngân.

Vì vậy, nếu muốn tham gia sân chơi toàn cầu, IFRS hay ESG không thể chỉ được coi là khẩu hiệu hoặc yếu tố tô điểm. Việc đáp ứng các chuẩn mực quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng năng lực lên một mức cao hơn rất nhiều.

-Đáp ứng các chuẩn mực quốc tế như IFRS không chỉ là câu chuyện thay đổi cách lập báo cáo tài chính. Theo ông, thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nằm ở đâu?

-TS. Huỳnh Trung Minh: Chắc chắn đây không phải là quá trình đơn giản. Doanh nghiệp không chỉ phải đầu tư vào con người mà còn phải thay đổi cả nền tảng vận hành.

Để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, doanh nghiệp phải rà soát lại hệ thống kế toán, công nghệ, hoạt động kiểm toán cũng như toàn bộ quy trình quản trị. Đi cùng với đó là yêu cầu nâng cao mức độ minh bạch trong toàn bộ hoạt động. Đây là khoản đầu tư cần thiết, thậm chí có ý nghĩa sống còn nếu doanh nghiệp muốn thực sự bước vào sân chơi quốc tế.

Doanh nghiệp nào cũng muốn vươn ra thị trường lớn và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, nhưng mong muốn là một chuyện, năng lực và quyết tâm thực thi mới là yếu tố quan trọng. Quá trình chuyển đổi cũng cần sự hỗ trợ đồng bộ từ cơ quan quản lý, từ chính sách tài chính, thuế đến việc phát triển công nghệ và nguồn nhân lực.

Bên cạnh đó, việc có các tổ chức quốc tế uy tín tham gia đánh giá cũng rất cần thiết. Qua đó, doanh nghiệp có thể nhận diện rõ những khoảng cách còn tồn tại và những vấn đề cần cải thiện để từng bước đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.

hinh-thi-truong-chung-khoan.jpg
Việt Nam cần đưa thêm những doanh nghiệp tốt, có quy mô vốn hóa lớn và triển vọng tăng trưởng lên sàn. Ảnh: T.L

-Nâng hạng mới chỉ mở thêm cơ hội tiếp cận dòng vốn quốc tế. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để biến cơ hội này thành động lực phát triển thị trường vốn, vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế, vừa thu hút và giữ được các dòng vốn dài hạn?

-TS. Huỳnh Trung Minh: Một điểm nghẽn của thị trường vốn hiện nay là sự mất cân đối về kỳ hạn, khi nguồn vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng vẫn phải gánh một phần đáng kể nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp.

Vì vậy, khi thị trường cổ phiếu phát triển hơn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp vận hành minh bạch, đi cùng cơ chế xếp hạng tín nhiệm độc lập, doanh nghiệp sẽ có thêm khả năng huy động vốn trung và dài hạn trực tiếp từ thị trường, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng.

Khi đó, các ngân hàng thương mại có điều kiện tập trung hơn vào cung ứng vốn ngắn hạn, đặc biệt là vốn lưu động cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này không chỉ giúp phân bổ lại vai trò cung ứng vốn giữa thị trường vốn và hệ thống ngân hàng mà còn góp phần giảm rủi ro chênh lệch kỳ hạn trong hệ thống tài chính.

Để thị trường vốn thực hiện tốt hơn vai trò này, cần thúc đẩy hoạt động xếp hạng tín nhiệm độc lập, đồng thời phát triển lực lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước như các quỹ hưu trí, quỹ hưu trí tự nguyện và doanh nghiệp bảo hiểm. Đây là những định chế có khả năng cung cấp nguồn vốn dài hạn và tạo nền tảng ổn định hơn cho thị trường.

Khi dòng vốn nước ngoài biến động theo chu kỳ, một lực lượng nhà đầu tư tổ chức trong nước đủ mạnh cũng sẽ giúp thị trường giảm phụ thuộc vào dòng vốn ngoại và duy trì nguồn vốn dài hạn ổn định hơn.

Doanh nghiệp nào cũng muốn vươn ra thị trường lớn và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, nhưng mong muốn là một chuyện, năng lực và quyết tâm thực thi mới là yếu tố quan trọng.

TS. Huỳnh Trung Minh

Nổi bật
      Mới nhất
      Để biến nâng hạng chứng khoán thành cơ hội hút chục tỉ đô dòng vốn ngoại
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO