Gần 80 năm trước Shahed, Mỹ đã biến máy bay ném bom thành UAV cảm tử
Tháng 8/1944, Không lực Lục quân Mỹ bắt đầu dùng sóng radio lái những chiếc B-17 cũ nhồi đầy thuốc nổ lao vào các boongke của Đức Quốc Xã.
Chiến dịch Aphrodite thất bại, chương trình song sinh của Hải quân còn khiến anh trai John F. Kennedy thiệt mạng, nhưng ý tưởng ấy nay đã trở lại dưới hình hài UAV cảm tử Shahed-136 và LUCAS.
Biến pháo đài bay thành quả bom khổng lồ
Mùa hè năm 1944, quân Đồng minh gặp khó khăn khi tìm cách phá hủy các công trình quân sự kiên cố của Đức Quốc Xã ở miền bắc nước Pháp. Đây là nơi phát xít Đức xây dựng những boongke bê tông khổng lồ phục vụ chương trình vũ khí V-1, V-2 và pháo tầm xa V-3 nhằm tấn công nước Anh. Lớp bê tông dày nhiều mét khiến bom thông thường khó xuyên thủng. Theo tạp chí Air & Space Forces, chiến dịch Crossbow nhằm phá hủy các cơ sở này đã tiêu tốn gần 21% nỗ lực ném bom chiến lược của Đồng minh.

Tướng Carl Spaatz, chỉ huy lực lượng không quân chiến lược Mỹ tại châu Âu, muốn có một loại vũ khí đủ sức đưa khối thuốc nổ lớn tới thẳng mục tiêu. Trong khi đó, các sân bay ở Anh đang có nhiều máy bay ném bom B-17 Flying Fortress đã xuống cấp, không còn phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu. Ngày 26/6/1944, tướng Jimmy Doolittle, tư lệnh Không lực số 8, phê duyệt dự án Aphrodite nhằm cải tạo những chiếc B-17 cũ thành bom bay điều khiển từ xa.
Khoảng 25 chiếc B-17 được cải tạo thành phiên bản BQ-7. Toàn bộ súng máy, giáp bảo vệ và phần lớn thiết bị không cần thiết bị tháo bỏ để lấy chỗ chứa tới 9 tấn thuốc nổ, chủ yếu là TNT hoặc Torpex, loại có sức công phá mạnh hơn TNT khoảng 50%. Một số chiếc còn mang chất cháy dạng gel. Do chỉ thực hiện chuyến bay một chiều, chúng không cần vũ khí tự vệ và vẫn có thể sử dụng những động cơ đã cũ.
Ý tưởng điều khiển máy bay bằng sóng vô tuyến thực ra đã xuất hiện từ trước chiến tranh. Năm 1938, hai anh em sinh đôi Walter và Bill Good từng cho bay thành công mô hình điều khiển từ xa Big Guff, hiện được lưu giữ tại bảo tàng Smithsonian (Mỹ). Tuy nhiên, điều khiển một mô hình nhỏ trong tầm mắt khác xa việc dẫn đường cho máy bay ném bom bốn động cơ bay hàng trăm km.
Để giải quyết vấn đề này, các kỹ sư Mỹ sử dụng thiết bị vô tuyến từ bom dẫn đường Azon, kết nối với cánh lái, cần ga và hệ thống lái tự động của BQ-7. Hai camera truyền hình được lắp trên máy bay, một hướng vào bảng đồng hồ và chiếc còn lại quan sát phía trước. Hình ảnh truyền về một chiếc B-17 bay theo phía sau, cho phép người điều khiển theo dõi hành trình và dẫn BQ-7 tới mục tiêu. Các tiêm kích cũng được bố trí hộ tống, sẵn sàng bắn hạ chiếc máy bay chứa thuốc nổ nếu nó mất kiểm soát.
Khó khăn lớn nhất nằm ở khâu cất cánh, bởi công nghệ thời đó chưa cho phép thực hiện hoàn toàn từ xa. Mỗi chiếc BQ-7 vẫn cần hai người tình nguyện, gồm một phi công và một kĩ thuật viên, trực tiếp đưa máy bay lên độ cao khoảng 600 m. Sau khi kích hoạt hệ thống ngòi nổ và bàn giao quyền điều khiển cho máy bay phía sau, cả hai phải nhảy dù xuống lãnh thổ Anh. Như vậy, dù được thiết kế để tấn công không cần người lái, BQ-7 vẫn buộc phi công phải ngồi trên khối thuốc nổ hàng tấn trong giai đoạn nguy hiểm nhất của chuyến bay.
Bom bay mất lái và cái chết của anh trai John F. Kennedy
Ngày 4/8/1944, bốn chiếc BQ-7 mang đầy thuốc nổ cất cánh từ căn cứ Fersfield, miền đông nước Anh, để tấn công các công trình quân sự của Đức tại Pháp. Ngay trong đợt xuất kích đầu tiên, kế hoạch đã gặp sự cố nghiêm trọng. Một chiếc mất kiểm soát khi chuyển từ chế độ lái tự động sang điều khiển từ xa, xoáy xuống khu rừng gần Sudbourne, hạt Suffolk, rồi phát nổ. Phi công John Wesley Fisher Jr. thiệt mạng, còn người đi cùng kịp nhảy dù thoát thân. Chiếc tiếp cận mục tiêu gần nhất cũng rơi cách boongke Watten khoảng 450 m, không gây được thiệt hại như mong đợi.

Hai ngày sau, một chiếc BQ-7 khác mất tín hiệu điều khiển, bay vòng trên thị trấn Ipswich trong nhiều phút khi vẫn mang nguyên khối thuốc nổ, trước khi lao xuống biển. Những lần xuất kích tiếp theo cũng không khá hơn. Có chiếc mất liên lạc vô tuyến, chiếc hỏng hệ thống lái tự động, trong khi hình ảnh truyền về quá mờ khiến người điều khiển khó xác định mục tiêu. Ngay cả những máy bay vượt qua được các trục trặc kĩ thuật cũng có nguy cơ bị pháo phòng không Đức bắn hạ.
Trong lúc Không lực Lục quân Mỹ liên tiếp thất bại với chiến dịch Aphrodite, Hải quân Mỹ cũng triển khai một chương trình tương tự mang tên Anvil. Ngày 12/8/1944, phi công Joseph P. Kennedy Jr. cùng đồng đội Wilford John Willy điều khiển chiếc PB4Y-1, biến thể hải quân của máy bay ném bom B-24 Liberator, cất cánh với khoảng 9,6 tấn thuốc nổ Torpex. Họ dự định tấn công trận địa pháo V-3 tại Mimoyecques, dù công trình này đã bị bom Tallboy của Anh phá hỏng nặng từ đầu tháng 7.
Tuy nhiên, máy bay chưa kịp đến mục tiêu thì khối thuốc nổ bất ngờ phát nổ trên vùng Blythburgh, hạt Suffolk. Kennedy Jr. và Willy thiệt mạng khi vẫn còn trong buồng lái. Thi thể của cả hai không bao giờ được tìm thấy. Nguyên nhân vụ nổ đến nay vẫn chưa được xác định. Một giả thuyết cho rằng hệ thống điện không được che chắn đầy đủ đã vô tình kích hoạt ngòi nổ.
Joseph P. Kennedy Jr. là con trai cả của cựu đại sứ Mỹ tại Anh Joseph P. Kennedy và là anh trai của John F. Kennedy, người sau này trở thành tổng thống Mỹ. Ông được truy tặng Huân chương Chữ thập Hải quân (Navy Cross). Sau cái chết của người con cả, những kì vọng về sự nghiệp chính trị của gia đình Kennedy dần chuyển sang người em John.
Các tai nạn liên tiếp cho thấy công nghệ điều khiển từ xa khi ấy chưa đủ tin cậy để biến những máy bay ném bom cũ thành vũ khí tấn công chính xác. Từ tháng 8/1944 đến tháng 1/1945, Aphrodite thực hiện hơn chục phi vụ, với số lượt tấn công được một số tài liệu thống kê lên tới gần 20, nhưng không ghi nhận lần nào phá hủy được mục tiêu như kế hoạch. Chiến dịch còn khiến nhiều quân nhân Mỹ thiệt mạng, trong đó có Fisher, trong khi chương trình Anvil cướp đi sinh mạng của Kennedy Jr. và Willy.
Cuối cùng, Tướng Carl Spaatz ra lệnh chấm dứt Aphrodite vào tháng 1/1945. Chương trình được xây dựng với mục tiêu giảm rủi ro cho phi công Đồng minh, nhưng những hạn chế của công nghệ thời bấy giờ lại khiến chính những người tham gia phải trả giá bằng mạng sống.
Từ B-17 đến UAV cảm tử Shahed
Dù thất bại, Aphrodite vẫn là một trong những nỗ lực đầu tiên của Mỹ nhằm phát triển UAV cảm tử. Theo tạp chí National Interest, phi vụ đầu tiên của chương trình diễn ra ngày 4/8/1944, gần ba tháng trước đợt tấn công cảm tử có tổ chức đầu tiên của Nhật Bản tại vịnh Leyte. Cả hai đều biến máy bay thành vũ khí dùng một lần, nhưng người Mỹ tìm cách điều khiển từ xa thay vì để phi công lao vào mục tiêu.
Cùng thời gian này, Hải quân Mỹ thử nghiệm TDR-1, loại UAV hai động cơ do hãng Interstate chế tạo. Người điều khiển ngồi trên máy bay TBM Avenger, quan sát mục tiêu qua màn hình 5 inch nhận hình ảnh từ camera gắn ở mũi UAV. Ngày 27/9/1944, bốn chiếc TDR-1 mang bom khoảng 900 kg tấn công một tàu buôn mắc cạn được quân Nhật sử dụng làm trận địa phòng không tại Bougainville. Ít nhất một chiếc đánh trúng mục tiêu.

Theo tạp chí Air & Space của bảo tàng Smithsonian, tổng cộng 46 chiếc TDR-1 được sử dụng, trong đó 15 chiếc mất trước khi tới đích. Khoảng một nửa số còn lại đánh trúng hoặc gây thiệt hại cho mục tiêu. Dù có kết quả khả quan hơn Aphrodite, chương trình vẫn bị đình chỉ vào cuối tháng 10/1944 do giới chỉ huy chưa tin tưởng công nghệ này.
Hơn 80 năm sau, nhiều hạn chế khiến Aphrodite thất bại đã được khắc phục. UAV cảm tử Shahed-136 của Iran có thể tự cất cánh và bay theo lộ trình định sẵn nhờ định vị vệ tinh kết hợp dẫn đường quán tính, không cần phi công trực tiếp điều khiển. Mỹ cũng phát triển LUCAS, mẫu UAV có thiết kế tương tự Shahed do SpektreWorks tại Arizona chế tạo, với giá khoảng 35.000 USD mỗi chiếc theo Reuters. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) xác nhận LUCAS lần đầu tham chiến trong chiến dịch Epic Fury nhằm vào Iran từ cuối tháng 2/2026.
Từ B-17 nhồi thuốc nổ đến Shahed-136 và LUCAS, ý tưởng dùng máy bay làm vũ khí tấn công một chiều về cơ bản không thay đổi. Khác biệt nằm ở công nghệ, năm 1944, phi công phải mạo hiểm tính mạng để đưa máy bay lên không trung, còn ngày nay toàn bộ quá trình có thể diễn ra mà không cần người trong buồng lái. Chiếc TDR-1 cuối cùng còn sót lại hiện được trưng bày tại Bảo tàng Hàng không Hải quân Quốc gia Mỹ ở Pensacola, Florida, trong khi những UAV cảm tử cùng nguyên lí đang được sử dụng trên chiến trường Ukraine và Trung Đông.


