Kinh tế

Giải mã sức khoẻ tài chính của một loạt ông lớn Kỳ 3: Chịu sức ép lớn, nhiều công ty ngành dược vẫn làm ăn tốt

Minh Phương • 29/10/2026 10:23

Việt Nam tiếp tục là điểm đến đáng chú ý của ngành dược phẩm nhờ nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng, dân số già hóa và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng được mở rộng.

Thị trường dược phẩm Việt Nam đang cho thấy sự phân hóa trong kết quả kinh doanh quý III và 9 tháng đầu năm 2026. Trong khi Dược Hậu Giang ghi nhận lợi nhuận quý III giảm mạnh do doanh thu đi xuống, chi phí hoạt động và thuế tăng, thì Imexpharm cùng một số doanh nghiệp khác vẫn duy trì được lợi nhuận nhờ cải thiện hiệu quả vận hành.

Doanh nghiệp lớn chịu sức ép chi phí

Báo cáo tài chính quý III/2026 của Công ty cổ phần Dược Hậu Giang ghi nhận doanh thu thuần đạt hơn 1.023 tỉ đồng, giảm khoảng 11% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế còn gần 98,5 tỉ đồng, giảm 53%.

Đây là mức lợi nhuận theo quý thấp nhất của doanh nghiệp kể từ năm 2011, theo số liệu được công bố trên thị trường chứng khoán.

Kết quả này chịu tác động từ cả doanh thu suy giảm lẫn chi phí gia tăng. Trong quý III, chi phí bán hàng của Dược Hậu Giang tăng khoảng 23%, lên gần 314 tỉ đồng; chi phí quản lý doanh nghiệp tăng khoảng 16%, lên gần 96 tỉ đồng. Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tăng do tác động của quy định về thuế tối thiểu toàn cầu.

Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM, ông Toshifumi Kojima, quyền Tổng giám đốc Dược Hậu Giang, cho biết lợi nhuận trước thuế và sau thuế giảm do doanh thu thuần đi xuống, kéo theo lợi nhuận gộp giảm. Bên cạnh đó, một số khoản chi phí hoạt động và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tăng, trong đó có khoản thuế bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu.

Tính đến ngày 30/9/2026, tiền mặt và tiền gửi của doanh nghiệp giảm so với đầu năm. Dù vậy, Dược Hậu Giang vẫn duy trì chính sách không có nợ vay tài chính, theo thông tin trong báo cáo tài chính.

Kết quả kinh doanh quý III giảm mạnh nhưng bức tranh lũy kế 9 tháng của doanh nghiệp vẫn tương đối ổn định. Doanh thu thuần đạt khoảng 3.584 tỉ đồng, tăng gần 2% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 839 tỉ đồng, tăng gần 5%. Lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 713 tỉ đồng, gần như không thay đổi so với cùng kỳ năm trước.

Đến hết quý III, Dược Hậu Giang đã thực hiện khoảng 65% kế hoạch doanh thu và 83% chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế cả năm 2026.

Diễn biến tại doanh nghiệp cho thấy tăng trưởng doanh thu chưa đủ để bảo đảm lợi nhuận tăng tương ứng. Khi chi phí bán hàng, quản lý và nghĩa vụ thuế tăng nhanh, hiệu quả kinh doanh có thể suy giảm ngay cả khi doanh nghiệp vẫn duy trì được quy mô doanh thu tương đối lớn.

duoc-pham 5
Vốn hoá của các doanh nghiệp ngành dược phẩm

Trong khi đó, Công ty cổ phần Dược phẩm Imexpharm ghi nhận kết quả kinh doanh có sự khác biệt giữa doanh thu và lợi nhuận.

Theo thông cáo kết quả kinh doanh công bố ngày 20/10/2026, doanh thu thuần 9 tháng đầu năm của Imexpharm đạt 1.652 tỉ đồng, giảm 8% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 326 tỉ đồng, tăng 5%.

Doanh nghiệp cho biết hiệu quả vận hành tiếp tục được cải thiện. Biên lợi nhuận gộp trong 9 tháng đạt 41,5%, tăng so với mức 39,7% cùng kỳ năm trước. Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp giảm khoảng 8%, góp phần hỗ trợ lợi nhuận trong bối cảnh doanh thu suy giảm.

Riêng quý III, doanh thu thuần của Imexpharm đạt khoảng 544 tỉ đồng, giảm 5% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế tăng 4%. Đáng chú ý, doanh thu từ kênh phân phối thuốc vào bệnh viện tăng 10% so với cùng kỳ, cho thấy sự phục hồi của một trong những kênh kinh doanh quan trọng đối với doanh nghiệp.

Ở kênh bán lẻ, Imexpharm tiếp tục mở rộng hoạt động tại các chuỗi nhà thuốc. Doanh thu từ kênh chuỗi trong quý III tăng mạnh so với cùng kỳ, trong khi doanh số tại các nhà thuốc bán lẻ độc lập vẫn chịu sức ép.

long-chau 1
Việt Nam tiếp tục là điểm đến đáng chú ý của ngành dược phẩm nhờ nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng- Ảnh tư liệu

Sự khác biệt giữa các kênh phân phối cho thấy hoạt động kinh doanh dược phẩm không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu thị trường mà còn chịu ảnh hưởng từ thay đổi trong hệ thống bán hàng, chính sách quản lý và khả năng thích ứng của từng doanh nghiệp.

Theo giới phân tích, Imexpharm có lợi thế ở nhóm thuốc kháng sinh, đồng thời từng bước mở rộng danh mục sang các lĩnh vực điều trị khác như tim mạch, tiểu đường và tiêu hóa. Hệ thống nhà máy đáp ứng tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc của châu Âu (EU-GMP) cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia các gói thầu thuốc có yêu cầu chất lượng cao.

Tuy nhiên, việc sở hữu năng lực sản xuất đạt tiêu chuẩn cao không đồng nghĩa doanh thu sẽ tự động tăng trưởng. Hiệu quả kinh doanh còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thị trường, cơ cấu sản phẩm, chi phí phân phối và mức độ cạnh tranh trong từng kênh bán hàng.

Bức tranh của Dược Hậu Giang và Imexpharm cho thấy những doanh nghiệp có vị thế trên thị trường vẫn phải đối mặt với áp lực điều chỉnh hoạt động kinh doanh. Khả năng kiểm soát chi phí, duy trì hiệu quả sản xuất và thích ứng với thay đổi trong hệ thống phân phối ngày càng có ý nghĩa đối với kết quả lợi nhuận.

biểu đồ ngành dược
Biểu đồ ngành dược

Nhiều doanh nghiệp duy trì lợi nhuận, thị trường vẫn còn dư địa

Bên cạnh những doanh nghiệp chịu sức ép trong quý III, một số đơn vị khác vẫn ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong 9 tháng đầu năm 2026.

Tại Dược Hậu Giang, dù lợi nhuận quý III giảm mạnh, kết quả lũy kế vẫn đáp ứng phần lớn kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm. Trường hợp này cho thấy cần đánh giá kết quả kinh doanh theo cả từng quý và lũy kế, tránh chỉ dựa vào một kỳ báo cáo để nhận định toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Với Imexpharm, lợi nhuận tăng trong khi doanh thu giảm phản ánh tác động của việc cải thiện hiệu quả vận hành và kiểm soát chi phí. Đây cũng là yếu tố cần được theo dõi trong các quý tiếp theo để xác định khả năng duy trì mức sinh lời khi doanh thu chưa phục hồi hoàn toàn.

Ở nhóm doanh nghiệp khác, Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 1 (Pharbaco) ghi nhận doanh thu quý III/2026 khoảng 311 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 27 tỉ đồng, theo dữ liệu báo cáo tài chính được công bố. Kết quả này cho thấy doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận trong bối cảnh thị trường dược phẩm có nhiều thay đổi.

Tuy nhiên, khi so sánh các doanh nghiệp trong ngành, cần phân biệt quy mô doanh thu, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế và mức tăng trưởng so với cùng kỳ. Một doanh nghiệp có tốc độ tăng lợi nhuận cao chưa chắc có quy mô lợi nhuận lớn; ngược lại, doanh nghiệp có doanh thu cao vẫn có thể gặp sức ép nếu chi phí tăng nhanh.

duoc-pham 3
Thị trường dược phẩm Việt Nam có quy mô lớn và còn tiềm năng phát triển. Ảnh: PM

Về triển vọng thị trường, Việt Nam tiếp tục là điểm đến đáng chú ý của ngành dược phẩm nhờ nhu cầu chăm sóc sức khỏe tăng, dân số già hóa và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ngày càng được mở rộng.

Bà Katarina, Giám đốc điều hành MSD Việt Nam, nhận định thị trường dược phẩm Việt Nam có quy mô lớn và còn tiềm năng phát triển. Theo bà, định hướng nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, tăng khả năng tiếp cận thuốc đổi mới và thúc đẩy y tế dự phòng có thể tạo thêm cơ hội cho ngành trong thời gian tới.

Bà cũng lưu ý rằng thách thức không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách mà còn ở quá trình triển khai. Khi nhiều bộ, ngành cùng tham gia, việc phối hợp và thực thi có thể mất thời gian, đòi hỏi sự hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các bên liên quan.

Trong bối cảnh dân số Việt Nam đang già hóa nhanh, đầu tư cho y tế dự phòng và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng quan trọng. Khu vực tư nhân có thể bổ sung nguồn lực cho hệ thống y tế công thông qua đầu tư bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh và phát triển các giải pháp chăm sóc sức khỏe.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Chung Ji Kwang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Traphaco, cho biết ngành dược Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Các quy định liên quan đến phân phối, đấu thầu, quản lý thị trường và tiêu chuẩn chất lượng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hoạt động quản trị và tuân thủ của doanh nghiệp.

Theo ông Chung Ji Kwang, những thay đổi về chính sách và quản lý thị trường có thể khiến một số doanh nghiệp phải điều chỉnh quy mô, mô hình hoạt động và hệ thống phân phối. Về lâu dài, yêu cầu minh bạch và kiểm soát chất lượng có thể góp phần nâng cao tính cạnh tranh của thị trường.

Traphaco xác định việc tận dụng cơ hội tăng trưởng từ các nhóm sản phẩm tiềm năng, mở rộng kênh phân phối và củng cố niềm tin của người tiêu dùng đối với thương hiệu là những định hướng quan trọng. Doanh nghiệp cũng chú trọng tuân thủ pháp luật, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng suất.

Ông Toshifumi Kojima cũng nhận định ngành dược Việt Nam có nền tảng nhu cầu dài hạn nhờ những thay đổi về nhân khẩu học và kinh tế - xã hội. Dân số già hóa kéo theo nhu cầu điều trị các bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường và bệnh xương khớp tăng lên. Trong khi đó, thu nhập cải thiện và độ bao phủ bảo hiểm y tế mở rộng có thể làm thay đổi nhu cầu sử dụng thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

Một động lực khác là sự phát triển của thuốc sản xuất trong nước tại kênh bệnh viện. Khi doanh nghiệp nội địa nâng cao tiêu chuẩn sản xuất và chất lượng sản phẩm, nhóm thuốc generic có chất lượng tốt, giá cạnh tranh có thêm cơ hội tham gia thị trường.

Bên cạnh việc mở rộng sản phẩm và thị trường, tối ưu hóa vận hành cũng là yếu tố quan trọng đối với lợi nhuận. Các doanh nghiệp đang chú trọng tinh gọn hệ thống phân phối, nâng cao hiệu suất nhà máy và ứng dụng công nghệ vào quản trị để kiểm soát chi phí.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng rõ nét, kết quả kinh doanh của từng doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa nhu cầu thị trường thành doanh thu, đồng thời duy trì biên lợi nhuận thông qua kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Nổi bật
      Mới nhất
      Giải mã sức khoẻ tài chính của một loạt ông lớn Kỳ 3: Chịu sức ép lớn, nhiều công ty ngành dược vẫn làm ăn tốt
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO