Giải pháp giúp trái cây Việt 'thẳng tiến' vào thị trường Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra ngày càng nhiều yêu cầu khắt khe về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật.
2 nhóm yêu cầu để trái cây Việt vào thị trường Trung Quốc
Trường Nông nghiệp vừa phối hợp với Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm - Đại học Cần Thơ (CNSH&TP - ĐHCT) tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tích hợp quản lí dịch hại và công nghệ sau thu hoạch nhằm nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu”.
Tại hội thảo này, TS. Trần Thanh Tùng, Cán bộ Trung tâm Kiểm định và Khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cho biết: “Phía Trung Quốc hiện là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 4,76 tỉ USD. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, thị trường tỉ dân này đặt ra nhiều thách thức về hàng rào kĩ thuật, đặc biệt liên quan đến an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật”.

Các quy định nhập khẩu trái cây vào Trung Quốc tập trung vào hai nhóm yêu cầu chính.
Thứ nhất là kiểm dịch thực vật, đòi hỏi lô hàng không nhiễm đối tượng kiểm dịch, không mang đất, có bao bì đáp ứng tiêu chuẩn ISPM 15 (Tiêu chuẩn Quốc tế về các biện pháp kiểm dịch thực vật số 15) và phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Thứ hai là an toàn thực phẩm, với quy định dư lượng thuốc BVTV không được vượt ngưỡng MRL (Maximum Residue Limit - mức dư lượng tối đa cho phép). Đặc biệt, nhiều hoạt chất bị cấm hoặc có MRL rất thấp, gây khó khăn cho các mặt hàng trái cây đặc sản của Việt Nam như thanh long, sầu riêng hay xoài.
TS. Trần Thanh Tùng cũng cho biết: Theo Bộ NN & MT, các lô hàng trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc thường vi phạm một số hoạt chất phổ biến như Chlorpyrifos, Carbendazim, Cypermethrin, Imidacloprid. Nhóm quả có nguy cơ cao gồm thanh long, sầu riêng, xoài, nhãn (mức nguy cơ 4/5). Thách thức lớn hơn khi nhiều loại trái cây chủ lực của Việt Nam chưa có MRL trong hệ thống Codex hoặc quy định của Trung Quốc, dẫn đến rủi ro bị cảnh báo, trả về hoặc tiêu hủy khi xuất khẩu.

Tỉ lệ vi phạm an toàn thực phẩm xuất phát từ nhiều khâu trong chuỗi sản xuất. Trên đồng ruộng, một số nông dân còn lạm dụng thuốc BVTV, sử dụng sai liều lượng, số lần phun hoặc không tuân thủ thời gian cách li (PHI), thậm chí dùng thuốc cấm, ngoài danh mục. Việc phun thuốc theo thói quen, thay vì căn cứ ngưỡng gây hại, cũng làm tăng nguy cơ tồn dư.
Trong khi đó, kiến thức về quy định của các thị trường nhập khẩu, đặc biệt là mức dư lượng tối đa (MRL), còn hạn chế. Vật tư nông nghiệp kém chất lượng, không rõ nguồn gốc cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ tồn dư hóa chất trong nông sản.
Ở khâu sơ chế, đóng gói, nhiều cơ sở còn thiếu quy trình kiểm soát nội bộ, chưa truy xuất được nguồn nguyên liệu từ mã vùng trồng. Việc sử dụng hóa chất, phụ gia không đúng quy định có thể gây lây nhiễm chéo, trong khi kim loại nặng từ đất và nước tưới, nhất là tại vùng trồng gần khu công nghiệp, cũng tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng an toàn thực phẩm.
Giải pháp quản lí đồng bộ cho chuỗi xuất khẩu

TS. Phan Thị Thu Hiền, Cán bộ Trung tâm Kiểm dịch Thực vật sau nhập khẩu II cho rằng: “Để giảm thiểu rủi ro, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp từ quản lí vùng trồng, quy trình canh tác đến chế biến và xuất khẩu”.
Trước hết, cần tăng cường tập huấn cho nông dân về quy định SPS, danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Khuyến khích dùng thuốc sinh học, thuốc có thời gian cách li (PHI) ngắn và các biện pháp IPM như sử dụng thiên địch, bẫy bả để giảm thuốc hóa học, nhất là cuối vụ.
Kiểm soát chặt vùng trồng, cơ sở đóng gói, xây dựng mã số và ghi chép đầy đủ nhật ký canh tác để bảo đảm truy xuất nguồn gốc. Cần định kỳ kiểm tra dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng trong đất, nước và nông sản, đồng thời có biện pháp xử lý với những vùng nguy cơ ô nhiễm cao.
Tại cơ sở đóng gói, phải kiểm soát chặt nguyên liệu đầu vào, quy trình sơ chế, xử lý và đóng gói, tăng cường tự kiểm tra để hạn chế lây nhiễm chéo. Đồng thời, cần tăng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp xuất khẩu để đáp ứng yêu cầu thị trường.
Với thị trường Trung Quốc, tuân thủ nghiêm các quy định về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật là điều kiện then chốt. Sự phối hợp đồng bộ từ quản lý đến sản xuất sẽ giúp giảm rủi ro vi phạm, nâng uy tín và duy trì thị trường xuất khẩu.


