Hải quân Mỹ đang quá tải ra sao?
Hơn 20 tàu chiến Mỹ đang tập trung tại Trung Đông, trong đó có hai nhóm tác chiến tàu sân bay và một nhóm sẵn sàng đổ bộ. Một trong những tàu chủ lực, USS Abraham Lincoln, đã trải qua 207 ngày liên tục trên biển sau lần ghé Guam ngắn ngủi, phá kỉ lục được lập trong thời kì COVID-19.
Mackenzie Eaglen, chuyên gia về chiến lược, ngân sách và khả năng sẵn sàng quốc phòng, cùng Nicholas Carl, nhà nghiên cứu Trung Đông và tác chiến hiện đại thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ, cho rằng Hải quân Mỹ đang phải duy trì nhịp hoạt động gần với thời chiến bằng một hạm đội quá nhỏ. Những con tàu vẫn xuất hiện tại các điểm nóng, nhưng cái giá của sự hiện diện ấy là thủy thủ mệt mỏi, lịch bảo dưỡng đảo lộn, tàu mới bàn giao chậm và kho tên lửa cần nhiều năm để phục hồi.
Hơn 20 tàu chiến cho bài toán Hormuz
Hơn 20 tàu chiến Mỹ đang tập trung tại Trung Đông để đối phó Iran và bảo vệ eo biển Hormuz. Lực lượng này gồm hai nhóm tác chiến tàu sân bay, Nhóm sẵn sàng đổ bộ USS Boxer cùng hơn một chục tàu khu trục trong các biên đội hoặc triển khai độc lập. Theo Stars and Stripes, đầu tháng 7, ít nhất 24 tàu chiến đã được điều tới khu vực, chưa tính tàu tiếp dầu, tàu vận tải và các phương tiện hỗ trợ. Có thời điểm, gần một nửa số tàu chiến Mỹ đang hoạt động trên biển cùng dồn về Trung Đông.

Lực lượng đông đảo ấy vẫn phải chia sức cho hàng loạt nhiệm vụ như hộ tống tàu thương mại, tấn công mục tiêu trên bờ, đánh chặn tên lửa và UAV, giám sát Iran, đồng thời đề phòng nguy cơ thủy lôi tại eo biển Hormuz. Vì vậy, quy mô lớn không đồng nghĩa hạm đội còn nhiều lực lượng dự phòng.
Đô đốc Daryl Caudle, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, từng cảnh báo trước Thượng viện nước này rằng việc hộ tống tàu thương mại qua một eo biển đang bị tranh chấp có thể vượt quá khả năng thực hiện hiệu quả của hải quân. Nhiệm vụ này không đơn giản là cử một tàu khu trục đi cạnh tàu hàng. Lực lượng hộ tống còn cần phòng không, chống xuồng nhỏ, phát hiện thủy lôi, tiếp dầu, sửa chữa và cứu hộ khi xảy ra sự cố.
Mỗi tàu xuất hiện tại tuyến đầu còn kéo theo một chuỗi lực lượng phía sau. Một tàu khác phải lên đường thay ca, một đơn vị đang trở về cần bảo dưỡng, còn thủy thủ đoàn tiếp theo phải hoàn thành huấn luyện trước khi triển khai. Khi chiến dịch kéo dài ngoài dự kiến, các chu kì này bắt đầu chồng lên nhau. Hải quân có thể giữ tàu ở lại lâu hơn, rút ngắn thời gian nghỉ hoặc điều tàu từ khu vực khác tới. Cách làm đó duy trì được sức mạnh trước mắt, nhưng đồng thời làm giảm lực lượng dự phòng cho những cuộc khủng hoảng tiếp theo.
207 ngày và lời nhắn gửi từ tàu sân bay
USS Abraham Lincoln là biểu hiện rõ nhất cho tình trạng quá tải của Hải quân Mỹ. Tàu rời San Diego ngày 21/11/2025 trong một chuyến triển khai thường lệ, ghé Guam hai ngày vào tháng 12 rồi tiếp tục hoạt động ngoài khơi mà không cập thêm cảng nào. Đầu tháng 7/2026, Lincoln chạm mốc 207 ngày liên tục trên biển, vượt kỉ lục 206 ngày do USS Dwight D. Eisenhower lập năm 2020 giữa thời điểm các quy định phòng dịch COVID-19 hạn chế tàu sân bay ghé cảng nước ngoài.

Thông thường, tàu sân bay Mỹ cập cảng sau khoảng 30 đến 45 ngày để bổ sung vật tư, sửa chữa và cho thủy thủ nghỉ ngơi. Lincoln không có quãng dừng đó. Khoảng 5.000 người trên tàu phải duy trì hoạt động bay, bảo dưỡng máy bay, trực radar, canh gác và vận hành một căn cứ không quân nổi suốt nhiều tháng. Dấu hiệu mệt mỏi đã xuất hiện trong những tin nhắn gửi về nhà. Một thủy thủ cho biết sức khỏe thể chất và tinh thần của họ đang bị đe dọa. Trung tá Alexis Travis, một sĩ quan trên tàu, cũng thừa nhận thủy thủ đoàn đã mệt dù vẫn hoàn thành nhiệm vụ an toàn.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) cho biết quân nhân tại khu vực đang nhận được hỗ trợ hậu cần và chăm sóc cần thiết. Tuy nhiên, những biện pháp đó khó thay thế việc cập cảng, nghỉ ngơi và trở về với gia đình. Hoạt động liên tục cũng làm tăng khối lượng bảo dưỡng đối với máy bay và các hệ thống trên tàu. Những hạng mục không thể xử lí ngoài biển có thể dồn lại cho đợt sửa chữa sau khi Lincoln trở về.
Hạm đội chưa tới 300 chiếc, tàu thay thế vẫn nằm trong xưởng
Sức ép lên USS Abraham Lincoln phản ánh sự chênh lệch giữa số nhiệm vụ và số tàu có thể duy trì hoạt động lâu dài. Tính đến ngày 1/10/2025, lực lượng này có 293 tàu tác chiến, thấp xa mục tiêu 381 tàu có người lái và 134 phương tiện không người lái cỡ lớn. Con số 293 cũng không đồng nghĩa từng đó tàu đều có thể lập tức ra khơi, bởi nhiều chiếc đang sửa chữa, huấn luyện, thử nghiệm hoặc vừa trở về sau chuyến triển khai dài ngày.

Quy mô hạm đội thậm chí được dự báo giảm còn khoảng 283 tàu vào năm 2027 trước khi tăng trở lại. Nguyên nhân là tàu cũ rời biên chế nhanh hơn tốc độ bàn giao tàu mới. Tiến độ đóng tàu đang chậm trên diện rộng. GAO đánh giá 37 trong 45 tàu đang được đóng và nhận thấy cả 37 đều chậm tiến độ, từ năm tháng đến hơn ba năm. Hai tàu ngầm lớp Virginia bàn giao trong năm 2025 đều chậm hơn ba năm, trong khi nhịp sản xuất thực tế chỉ khoảng một chiếc mỗi năm, bằng một nửa mục tiêu.
Tàu sân bay cũng chịu chung tình trạng. USS John F. Kennedy bị lùi thời điểm bàn giao từ tháng 7/2025 sang tháng 3/2027, còn USS Enterprise tiếp tục bị lùi tới tháng 3/2031 vì thiếu vật tư và những xáo trộn trong quá trình thi công. Khi tàu thay thế chưa sẵn sàng, những chiếc đang hoạt động phải ở lại ngoài khơi lâu hơn. Một sự chậm trễ trong xưởng đóng tàu vì thế có thể biến thành nhiều tháng triển khai bổ sung cho một con tàu ở cách đó hàng nghìn kilômét.
Tàu nằm xưởng, kho tên lửa cũng vơi dần
Đóng tàu chậm mới chỉ là một phần sức ép. Hải quân Mỹ còn thường xuyên không đưa được những tàu hiện có trở lại biển đúng hạn. Trong năm tài khóa 2024, lực lượng tàu mặt nước Mỹ ghi nhận tổng cộng 2.633 ngày bảo dưỡng bị chậm so với kế hoạch. Dù đã cải thiện so với năm 2019, con số này vẫn tương đương việc nhiều tàu chiến cùng vắng mặt trong thời gian dài.

Tàu ngầm còn gặp khó hơn. Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO), khoảng một phần ba tàu ngầm tấn công đang bảo dưỡng hoặc chờ vào xưởng, cao hơn nhiều so với mục tiêu không quá 20%. Mỗi chiếc nằm bờ đều làm giảm năng lực trinh sát, săn ngầm và bảo vệ nhóm tàu sân bay. Những tàu còn hoạt động phải gánh thêm nhiệm vụ, ra biển lâu hơn và hao mòn nhanh hơn. Khi trở về, chúng lại cần sửa chữa nhiều hơn, khiến tình trạng triển khai kéo dài và bảo dưỡng chậm tiếp tục nối tiếp nhau.
Kho tên lửa cũng chịu sức ép tương tự. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ước tính Mỹ đã sử dụng hơn 1.000 tên lửa Tomahawk trong 39 ngày giao tranh với Iran. Nếu lượng dự trữ trước chiến sự vào khoảng 3.100 quả, chiến dịch có thể đã tiêu thụ gần một phần ba số đạn hiện có. Đây là ước tính của giới nghiên cứu, không phải số liệu chính thức từ Lầu Năm Góc.
Tên lửa Tomahawk còn khó bổ sung ngay trên biển. Tàu chiến đã sử dụng nhiều tên lửa phải quay về cảng có cơ sở phù hợp để nạp lại, tạm thời rời khỏi đội hình tác chiến. Tốc độ sản xuất cũng thấp hơn nhiều so với tốc độ khai hỏa. Trong mười năm gần đây, Mỹ đặt mua trung bình khoảng 86 quả Tomahawk mỗi năm, còn sản lượng gần đây vẫn dưới 200 quả. Ngay cả khi tăng đơn hàng, các lô mới cũng cần gần ba năm mới bắt đầu được bàn giao.
Trong khi các tàu chiến vẫn phải duy trì hiện diện từ Trung Đông tới Tây Thái Bình Dương, năng lực sản xuất và thời gian giao hàng tiếp tục là nút thắt. Tiền có thể được cấp ngay, nhưng tên lửa mới cần nhiều năm mới rời khỏi dây chuyền.


