Nghị định 260/2026/NĐ-CP mở đường cho hệ sinh thái công nghệ chiến lược
Nghị định 260/2026/NĐ-CP được đánh giá là một trong những chính sách có nhiều cơ chế ưu đãi mạnh nhất từ trước đến nay dành cho công nghệ cao và công nghệ chiến lược.
Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, TS. Đào Thị Thu Hằng - Giảng viên Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng điểm quan trọng nhất của Nghị định không nằm ở ưu đãi thuế, mà ở việc hình thành một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm.
Nghị định 260/2026/NĐ-CP: Từ ưu đãi thuế đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
- Nghị định 260/2026/NĐ-CP được đánh giá có nhiều cơ chế ưu đãi chưa từng có dành cho công nghệ cao và công nghệ chiến lược. Đâu là những điểm đột phá nổi bật nhất của nghị định này, thưa bà?

- TS. Đào Thị Thu Hằng: Theo tôi, điểm đột phá lớn nhất của Nghị định 260 là cách tiếp cận chính sách. Nghị định không chỉ ưu đãi về thuế mà xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho đổi mới sáng tạo, từ nghiên cứu, thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn hóa, kiểm định đến thương mại hóa, mua sắm công và hỗ trợ tài chính.
Nghị định cũng phân biệt rõ giữa công nghệ cao và công nghệ chiến lược để áp dụng mức ưu đãi tương ứng. Với các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng hoặc tài trợ, mức hỗ trợ có thể lên tới 100% kinh phí. Đây là cơ chế rất quan trọng vì nghiên cứu công nghệ lõi luôn có rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài và doanh nghiệp khó tự đầu tư nếu chỉ dựa vào nguồn lực thị trường.
Một điểm nổi bật khác là ưu đãi trực tiếp cho nhân lực khoa học và công nghệ. Người trực tiếp nghiên cứu, phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhiệm vụ công nghệ và quyền tác giả khi kết quả nghiên cứu được thương mại hóa. Điều đó cho thấy Nhà nước không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mà còn khuyến khích chính những người tạo ra tri thức và công nghệ.
Về tài chính, doanh nghiệp nghiên cứu công nghệ cao được hỗ trợ 70% lãi suất vay, tối đa 8%/năm trong 5 năm; với công nghệ chiến lược, mức hỗ trợ lên tới 100% lãi suất, nhưng không quá 10%/năm. Chính sách này tháo gỡ đúng nút thắt về vốn và chi phí tài chính - khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp công nghệ.
Đáng chú ý, nghị định còn gắn nghiên cứu với thị trường thông qua việc hỗ trợ đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ, kiểm định, thử nghiệm, chứng nhận và ưu tiên mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ chiến lược. Trọng tâm không còn chỉ là nghiệm thu đề tài mà là thương mại hóa sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, rút gọn một số thủ tục và chỉ định thầu đối với hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia sẽ giúp công nghệ mới không bị chậm nhịp vì thủ tục hành chính.
Nghị định 260/2026/NĐ-CP: Tạo động lực cho doanh nghiệp và nhân lực công nghệ
- Theo bà, các chính sách như miễn thuế thu nhập cá nhân, hỗ trợ lãi suất vay hay chỉ định thầu rút gọn sẽ tạo động lực như thế nào cho doanh nghiệp, nhà khoa học và hoạt động đổi mới sáng tạo?
- TS. Đào Thị Thu Hằng: Theo tôi, các chính sách này tạo động lực ở ba cấp độ: Tài chính, nghề nghiệp và thị trường.
Đối với doanh nghiệp, hỗ trợ lãi suất vay có ý nghĩa rất lớn. Nghiên cứu công nghệ, đặc biệt là công nghệ chiến lược, đòi hỏi vốn lớn, rủi ro cao và thời gian thu hồi vốn dài. Khi Nhà nước hỗ trợ đến 100% lãi suất vay, trong giới hạn tối đa 10%/năm trong 5 năm, chi phí vốn giảm và rủi ro tài chính được chia sẻ. Nhờ đó, doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư dài hạn thay vì chỉ nhập khẩu công nghệ hoặc gia công.

Đối với chuyên gia, kỹ sư và nhà khoa học, miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ nhiệm vụ công nghệ và quyền tác giả khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn thể hiện sự ghi nhận đối với lao động sáng tạo. Trong các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, an ninh mạng hay công nghệ lượng tử, đây sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Đối với hoạt động nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận và ưu tiên mua sắm công sẽ rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, giúp sáng chế nhanh chóng được thương mại hóa. Có thể thấy, Nghị định 260 tiếp cận toàn bộ chu trình từ nghiên cứu đến sản xuất, kinh doanh, thực tế hơn nhiều so với trước đây.
Ngoài ra, cơ chế chỉ định thầu rút gọn đối với các dự án đầu tư trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm sẽ đẩy nhanh việc hình thành hạ tầng công nghệ. Với lĩnh vực công nghệ chiến lược, đầu tư hạ tầng chậm đồng nghĩa công nghệ có nguy cơ lạc hậu ngay khi đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, việc rút gọn thủ tục vẫn phải đi cùng minh bạch, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình.
Biến chính sách thành năng lực cạnh tranh quốc gia
- Những cơ chế ưu đãi mới có đủ sức giúp Việt Nam thu hút nhân tài và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược?
- TS. Đào Thị Thu Hằng: Theo tôi, Nghị định 260 là một bước tiến rất mạnh nhưng chưa phải điều kiện đủ. Đây là nền tảng chính sách quan trọng, còn hiệu quả thực tế sẽ phụ thuộc rất lớn vào khâu triển khai.

Điểm tích cực là các ưu đãi đã chạm đúng những điểm nghẽn của hệ sinh thái công nghệ Việt Nam, từ vốn nghiên cứu, chi phí tài chính, thu nhập của nhân tài đến bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm sản phẩm và thị trường đầu ra. Việc nghị định có hiệu lực chỉ một ngày sau khi ban hành cũng cho thấy quyết tâm chính sách rất rõ.
Tuy nhiên, thu hút nhân tài không chỉ bằng ưu đãi thuế. Nhân lực công nghệ cao cần môi trường nghiên cứu tốt, phòng thí nghiệm hiện đại, cơ chế đãi ngộ phù hợp, quyền hưởng lợi từ sáng chế và thủ tục đơn giản. Nếu nhà khoa học vẫn mất quá nhiều thời gian cho hồ sơ và thủ tục hành chính thì hiệu quả của chính sách sẽ giảm đáng kể.
Doanh nghiệp công nghệ cũng cần một hệ sinh thái đồng bộ gồm vốn mạo hiểm, cơ chế sandbox, mua sắm công thông minh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, dữ liệu mở, liên kết viện - trường - doanh nghiệp và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Nếu ưu đãi vẫn vận hành theo cơ chế "xin - cho", chính sách tốt cũng khó phát huy hiệu quả.
Tôi cho rằng Nghị định 260 đủ sức tạo cú hích cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Nhưng để cạnh tranh với các quốc gia đang tăng tốc phát triển công nghệ, việc triển khai phải nhanh, minh bạch, có trọng tâm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Quan trọng hơn, hiệu quả cần được đo bằng công nghệ làm chủ, bằng sáng chế, doanh thu công nghệ, tỉ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thay vì chỉ bằng số lượng đề tài được phê duyệt.
- Theo bà, cần thêm những điều kiện gì để Nghị định 260/2026/NĐ-CP sớm đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả?
- TS. Đào Thị Thu Hằng: Theo tôi, cần tập trung vào 5 nhóm giải pháp.
Trước hết, cần sớm ban hành hướng dẫn thi hành với tiêu chí rõ ràng để xác định đúng nhiệm vụ, doanh nghiệp và chuyên gia được hưởng ưu đãi. Nếu tiêu chí không minh bạch, người xứng đáng sẽ ngại làm hồ sơ, còn người "giỏi làm hồ sơ" lại dễ hưởng lợi.
Thứ hai, xây dựng cơ chế một cửa, đẩy mạnh số hóa và rút gọn thủ tục. Việc xét hỗ trợ cần dựa trên dữ liệu, tiến độ thực hiện và sản phẩm đầu ra thay vì nặng về thủ tục hành chính.
Thứ ba, bảo đảm nguồn lực tài chính thực chất cho các quỹ như NAFOSTED, NATIF và các quỹ khoa học - công nghệ của bộ, ngành, địa phương. Đồng thời cần có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp để chính sách hỗ trợ lãi suất thực sự đi vào cuộc sống.
Thứ tư, gắn ưu đãi với kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình. Hiệu quả cần được đo bằng số công nghệ làm chủ, bằng sáng chế được thương mại hóa, doanh thu từ sản phẩm công nghệ, tỉ lệ nội địa hóa, số doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và số nhân lực công nghệ cao được đào tạo, giữ chân; không nên chỉ đánh giá bằng số đề tài hay hội thảo.
Cuối cùng, cần tăng cường minh bạch và kiểm soát rủi ro đối với các cơ chế ưu đãi mạnh như hỗ trợ 100% kinh phí, hỗ trợ lãi suất, chỉ định thầu rút gọn và mua sắm công. Muốn vậy, phải công khai tiêu chí lựa chọn, phát huy vai trò của hội đồng đánh giá độc lập, phản biện chuyên gia, kiểm toán công nghệ và xử lí nghiêm các trường hợp trục lợi chính sách.
Tóm lại, Nghị định 260/2026/NĐ-CP là một bước chuyển đáng kể trong tư duy pháp lí về phát triển công nghệ: Từ quản lí hành chính sang kiến tạo năng lực đổi mới sáng tạo. Nhưng để nghị định thực sự đi vào cuộc sống, Việt Nam cần triển khai bằng tư duy “đầu tư cho năng lực công nghệ quốc gia”, không phải tư duy “phân bổ ưu đãi”.
Nếu làm tốt, đây có thể là cú hích quan trọng cho doanh nghiệp công nghệ, nhà khoa học và các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Nếu làm không tốt, nó sẽ chỉ là một văn bản có nội dung rất đẹp mà thôi.
- Xin cảm ơn Tiến sĩ!



