Cạm bẫy số

Người dùng mạng xã hội có phải con tin của thuật toán AI?

Bùi Tú 10/09/2026 12:30

Thuật toán AI đang chi phối người dùng mạng xã hội và các nước trên thế giới có nhiều cách xử trí khác nhau. Vậy Việt Nam có thể học hỏi được gì?

Australia đang đề xuất trao cho người dùng mạng xã hội quyền lựa chọn là tiếp tục sử dụng nguồn cấp nội dung do thuật toán cá nhân hóa hoặc chuyển sang dòng nội dung chỉ đến từ những tài khoản mà họ chủ động theo dõi.

mạng xã hội
Thuật toán trên mạng xã hội đang đi vào từng ngóc ngách cuộc sống. Ảnh: Pexels

Washington phản đối động thái này, trong khi châu Âu và nhiều quốc gia khác lại đang đi theo hướng tăng quyền kiểm soát của người dùng đối với hệ thống đề xuất. Cuộc tranh luận vì thế không còn đơn giản là chuyện “gỡ nội dung độc hại”, mà đang chạm tới câu hỏi lớn hơn: Trên Internet tương lai, con người sẽ tự chọn thứ mình muốn biết, hay thuật toán sẽ tiếp tục chọn trước cho họ?

Australia muốn biến thuật toán từ mặc định thành lựa chọn trên mạng xã hội

Đề xuất mới của Australia, nằm trong khuôn khổ Nghĩa vụ chăm sóc kĩ thuật số (Digital Duty of Care), có thể tạo ra một thay đổi đáng kể trong cách người dùng tương tác với mạng xã hội. Theo dự luật được Chính phủ Thủ tướng Anthony Albanese đề xuất, các nền tảng phải thông báo cho người dùng về quyền lựa chọn giữa nguồn cấp nội dung được cá nhân hóa bằng thuật toán và nguồn cấp dựa trên những người, nhà sáng tạo hoặc tài khoản mà họ chủ động theo dõi. Các nền tảng cũng phải đánh giá và giảm thiểu những rủi ro gây hại cho người dùng, trong khi cơ quan quản lí an toàn mạng eSafety được trao thêm quyền xử lí nội dung có hại. Mức phạt tối đa được đề xuất lên tới 109,2 triệu AUD.

Điểm quan trọng là Canberra không tuyên bố muốn “xóa bỏ thuật toán”. Chính phủ Australia muốn đưa quyền lựa chọn thuật toán về phía người dùng. Người nào thích sự tiện lợi của nguồn cấp được cá nhân hóa vẫn có thể sử dụng, còn người không muốn hệ thống dự đoán sở thích và quyết định nội dung xuất hiện trước mắt mình sẽ có một lựa chọn khác.

Động thái này lập tức tạo ra phản ứng từ Mỹ. Chính quyền Tổng thống Donald Trump cho rằng những quy định như vậy có thể tạo thêm gánh nặng cho các công ty công nghệ Mỹ và dự kiến đưa vấn đề ra trong các cuộc thảo luận với đối tác thương mại.

Nhưng phản ứng từ Washington không có nghĩa phần còn lại của thế giới đang đứng về phía Australia một cách tuyệt đối. Ngay trong nội bộ Australia, phe đối lập cũng cảnh báo việc trao thêm quyền cho cơ quan quản lí có thể tạo ra nguy cơ chính phủ can thiệp quá sâu vào không gian trực tuyến.

Đáng chú ý hơn, Instagram cũng phản đối cách nhìn cho rằng thuật toán chỉ đơn thuần là công cụ thao túng người dùng. CEO Adam Mosseri lập luận rằng nếu chuyển sang dòng thời gian thuần túy theo thứ tự đăng tải, người dùng có thể bị “ngập” trong nội dung từ các thương hiệu và những tài khoản đăng quá thường xuyên. Theo ông, hệ thống xếp hạng giúp ưu tiên những nội dung phù hợp hơn với từng người dùng.

Đây chính là điểm khiến tranh luận trở nên phức tạp. Thuật toán vừa có thể là công cụ phục vụ người dùng, vừa có thể trở thành công cụ giữ chân và định hướng sự chú ý của họ.

Từ châu Âu đến Canada, thế giới đang kiểm soát thuật toán phía sau màn hình

Australia không phải quốc gia đầu tiên đặt câu hỏi về quyền lực của thuật toán. Liên minh châu Âu đã đi trước một bước với Đạo luật Dịch vụ Kĩ thuật số (Digital Services Act - DSA). Các nền tảng rất lớn tại EU phải cho người dùng lựa chọn nguồn cấp không cá nhân hóa, tức không dựa trên hồ sơ hành vi và hệ thống đề xuất của nền tảng. Người dùng có thể lựa chọn những tiêu chí khác, chẳng hạn hiển thị nội dung theo trình tự thời gian.

Điều đáng chú ý là EU không xem thuật toán là một vấn đề thuần kĩ thuật. Các hệ thống đề xuất được nhìn nhận như một yếu tố có thể tác động tới quyền cơ bản, sức khỏe tinh thần, khả năng tiếp cận thông tin và những rủi ro xã hội rộng hơn. DSA đồng thời yêu cầu các nền tảng lớn đánh giá và giảm thiểu những rủi ro mang tính hệ thống, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát công khai.

Canada cũng đang mở rộng cuộc tranh luận theo hướng tương tự. Các nhà quản lí và giới hoạch định chính sách ngày càng chú ý đến thuật toán đề xuất nội dung cho trẻ em, yêu cầu minh bạch hơn về cách hệ thống hoạt động và cơ chế giám sát độc lập.

Điểm chung trong cách tiếp cận của những nước này là một sự thay đổi về tư duy, tức là thay vì chỉ hỏi “nội dung nào là độc hại?”, họ bắt đầu hỏi thêm “hệ thống nào đã khiến nội dung đó được khuếch đại?”. Đây là câu hỏi quan trọng.

Một video độc hại có thể chỉ được vài chục người nhìn thấy nếu nó không được phân phối. Nhưng nếu hệ thống phát hiện video đó tạo ra tỷ lệ tương tác cao, giữ chân người xem lâu và khiến họ tiếp tục xem các video tương tự, thuật toán có thể vô tình hoặc có chủ đích biến một nội dung ban đầu rất nhỏ thành hiện tượng lớn.

Vì vậy, trách nhiệm không còn chỉ nằm ở người đăng nội dung. Nó bắt đầu mở rộng sang người thiết kế hệ thống phân phối nội dung. Tuy nhiên, giữa các quốc gia vẫn tồn tại khác biệt rất lớn. EU và Australia thiên về trao thêm quyền lựa chọn cho người dùng và buộc nền tảng chịu trách nhiệm đối với rủi ro hệ thống. Một số nước khác lại tập trung mạnh hơn vào nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung bất hợp pháp và quyền can thiệp của cơ quan quản lí.

Trong khi đó, Mỹ dưới chính quyền Trump nhấn mạnh nguy cơ các quy định nước ngoài trở thành gánh nặng hoặc rào cản đối với doanh nghiệp công nghệ Mỹ. Chính sự khác biệt này cho thấy thế giới chưa có câu trả lời thống nhất cho câu hỏi. Đó là trong phạm vi nào thì quản lí thuật toán trở thành bảo vệ người dùng và phạm vi nào thì nó biến thành kiểm soát Internet?

Việt Nam có thể học hỏi được gì?

Câu chuyện này đặc biệt đáng chú ý tại Việt Nam bởi mạng xã hội đã trở thành một phần rất lớn trong đời sống Internet. Theo DataReportal, Việt Nam có khoảng 79,8 triệu người sử dụng Internet vào đầu năm 2025, tương đương 78,8% dân số. Số danh tính người dùng mạng xã hội đạt khoảng 76,2 triệu, tương đương 75,2% dân số.

Đến báo cáo Digital 2026, quy mô sử dụng Internet và mạng xã hội tiếp tục ở mức rất cao. Những con số này cho thấy một thực tế là với hàng chục triệu người Việt Nam, mạng xã hội không còn chỉ là nơi giải trí. Đó cũng là nơi họ đọc tin tức, xem video, tìm sản phẩm, theo dõi người nổi tiếng, học hỏi, tranh luận và hình thành nhận thức về những vấn đề đang diễn ra xung quanh. Và phần lớn trải nghiệm đó không bắt đầu bằng một câu hỏi được người dùng chủ động gõ vào ô tìm kiếm. Nó bắt đầu bằng một dòng tin được thuật toán đưa tới.

Một người xem nhiều video về đầu tư có thể nhanh chóng nhận được thêm các video đầu tư. Người quan tâm đến bóng đá sẽ liên tục được đề xuất các nội dung bóng đá. Người thường dừng lại trước những tranh luận gay gắt có thể tiếp tục được đưa đến những nội dung tương tự. Đây là điểm tiện lợi nhất của thuật toán, nhưng cũng là điểm cần cảnh giác nhất.

Lí do là bởi người dùng có thể có cảm giác mình đang tự do lựa chọn thông tin, trong khi lựa chọn đó đã được lọc trước bởi một hệ thống mà họ không nhìn thấy. Vấn đề không nằm ở việc thuật toán có tồn tại hay không. Một Internet không có thuật toán hoàn toàn có thể trở nên hỗn loạn, quá tải và kém hữu ích. Vấn đề nằm ở chỗ người dùng có thực sự có quyền quyết định thuật toán tác động đến mình đến mức nào hay không.

Australia đang thử trao cho người dùng một “công tắc”. EU đã yêu cầu các nền tảng lớn cung cấp nguồn cấp không cá nhân hóa. Những động thái này có thể mở ra một hướng đi mới là thay vì bắt người dùng rời bỏ mạng xã hội để thoát khỏi thuật toán, hãy cho họ quyền tắt nó khi muốn. Đó đều là những thứ đáng để Việt Nam học hỏi.

Và cũng từ đây xuất hiện câu hỏi lớn hơn đối với Internet trong thập niên tới. Trong nhiều năm, Internet được xây dựng trên lời hứa rằng con người có thể tự mình tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Nhưng mạng xã hội đã đảo ngược một phần mô hình đó, thông tin ngày càng tìm đến con người trước khi con người chủ động tìm kiếm thông tin.

Thuật toán biết chúng ta dừng lại bao lâu trước một video, nội dung nào khiến chúng ta bấm thích, chủ đề nào khiến chúng ta tranh luận và điều gì khiến chúng ta quay lại vào ngày hôm sau. Từ những tín hiệu đó, nó quyết định thứ gì nên xuất hiện tiếp theo. Vì vậy, câu hỏi của Internet tương lai có lẽ không còn đơn giản là “chúng ta có quyền truy cập thông tin hay không?” Thay vào đó là: “Chúng ta có quyền quyết định thông tin nào được đưa đến mình hay không?”

Nếu thuật toán tiếp tục được thiết kế chủ yếu để tối đa hóa thời gian sử dụng và mức độ tương tác, người dùng có thể ngày càng sống trong những “bong bóng thông tin” được xây riêng cho mình. Nhưng nếu người dùng có quyền lựa chọn, có quyền nhìn thấy cách hệ thống vận hành và có thể dễ dàng thoát khỏi cơ chế cá nhân hóa, Internet có thể trở lại gần hơn với lời hứa ban đầu về một không gian thông tin do con người chủ động khám phá.

Nổi bật
      Mới nhất
      Người dùng mạng xã hội có phải con tin của thuật toán AI?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO