Nhà khoa học 90 tuổi với hơn 60 năm tìm lời giải cho cây lúa Việt
Hơn 60 năm gắn bó với cây lúa, GS. TS Mai Văn Quyền - Chủ tịch Hội đồng khoa học kỹ thuật CTCP Phân bón Bình Điền không chỉ góp phần tạo ra nhiều giống lúa chất lượng cao, phát triển các dòng phân bón Đầu Trâu mà còn xây dựng một hệ thống chuyển giao khoa học giúp hàng triệu nông dân tiếp cận tiến bộ kỹ thuật.
Ở tuổi 90, GS.TS Mai Văn Quyền - Chủ tịch Hội đồng Khoa học kỹ thuật Công ty CP Phân bón Bình Điền vẫn miệt mài nghiên cứu những giải pháp canh tác mới cho nền nông nghiệp xanh.
Khoa học phải bắt đầu từ nhu cầu của người nông dân
"Tôi sinh ra ở Quảng Trị, lớn lên trong cảnh chiến tranh, đói nghèo nên luôn nghĩ nếu làmkhoa học thì phải làm sao để người dân có đủ cơm ăn", GS.TS Mai Văn Quyền mở đầu câu chuyện.

Từ Viện Khoa học Nông nghiệp những năm 1960 đến Đồng bằng sông Cửu Long sau ngày đất nước thống nhất, rồi gắn bó với Công ty CP Phân bón Bình Điền từ năm 1999 đến nay, gần như mọi chặng đường nghiên cứu của Giáo sư đều xoay quanh một mục tiêu, đó là làm sao để giúp cây lúa phát huy tối đa tiềm năng bằng những tiến bộ khoa học có thể ứng dụng ngay trên đồng ruộng.
Những nghiên cứu đầu tiên của GS.TS Mai Văn Quyền gắn với bệnh vàng lụi trên lúa, loại bệnh từng gây thất thu nghiêm trọng ở miền Bắc.
Ông cùng các đồng nghiệp xác định nguyên nhân bệnh do virus truyền qua rầy xanh đuôi đen, từ đó đề xuất giải pháp tổng hợp gồm giống kháng bệnh, quản lý dịch hại, chế độ nước và dinh dưỡng hợp lý. "Khoa học không thể chỉ giải quyết một khâu. Muốn cây lúa khỏe thì phải đồng thời giải quyết giống, đất, nước và phân bón", ông Quyền nói.
Cũng trong giai đoạn thiếu phân đạm, ông cùng các nhà khoa học nghiên cứu sử dụng bèo hoa dâu kết hợp phân lân để bổ sung nguồn đạm sinh học cho đồng ruộng. Giải pháp này nhanh chóng được nhân rộng, góp phần nâng sản lượng lúa miền Bắc từ khoảng 3,2 triệu tấn lên 5 triệu tấn trước khi đất nước thống nhất.
Sau năm 1979, khi được điều động vào miền Nam xây dựng cơ sở nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, ông tiếp tục đối mặt với một bài toán khác. Bài toán về đất phèn ở Đồng Tháp Mười.
Sau thời gian nghiên cứu tại Viện Lúa Quốc tế (IRRI), ông cùng cộng sự xây dựng quy trình canh tác tổng hợp gồm sử dụng giống chịu phèn, gieo sạ đúng thời vụ, bón phân lân hợp lý, quản lý nước và rửa phèn. Quy trình này góp phần mở rộng diện tích sản xuất lúa ở nhiều vùng đất khó của Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ giống lúa đến quy trình canh tác đồng bộ
Theo GS.TS Mai Văn Quyền, một giống lúa tốt chỉ phát huy hết tiềm năng khi được đặt trong một quy trình canh tác phù hợp. "Tôi luôn cho rằng giống, phân bón và kỹ thuật phải đi cùng nhau. Nếu chỉ cải tiến một yếu tố thì hiệu quả sẽ không cao", ông chia sẻ.
Quan điểm này được hiện thực hóa bằng hàng loạt kết quả nghiên cứu giống lúa mới.

Năm 2007, nhóm nghiên cứu lai tạo thành công giống lúa lai Bắc Ưu 903 kháng bệnh bạc lá. Sau hai năm khảo nghiệm tại nhiều vùng sinh thái phía Bắc, giống được công nhận là giống quốc gia và đưa vào cơ cấu sản xuất tại các vùng thường xuyên bị bệnh bạc lá.
Tiếp đó, giống lúa lai ba dòng HR182 được công nhận giống quốc gia năm 2012, thích hợp với các vùng đất phèn, đất mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp.
Cùng năm, giống Nam Ưu 209 được hoàn thiện với ưu điểm năng suất cao, cơm dẻo, thơm, kháng bệnh bạc lá và đạo ôn. Sau bốn năm khảo nghiệm, giống được công nhận và đưa vào sản xuất tại nhiều tỉnh phía Bắc.
Ở nhóm giống chất lượng cao, KC06-1 tạo dấu ấn khi đạt năng suất 12-13 tấn/ha, cao hơn 32-84% so với nhiều giống lúa lai phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long. Giống có thời gian sinh trưởng ngắn, kháng rầy nâu, đạo ôn, hạt gạo dài, cơm thơm dẻo, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu và được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận năm 2019.
Trong khi đó, Đài Thơm 8 được đánh giá cao nhờ khả năng chịu phèn, chịu mặn, thời gian sinh trưởng chỉ 90-95 ngày, năng suất đạt 7-9 tấn/ha. Hạt gạo thon dài, hàm lượng amylose khoảng 16,3%, cơm mềm, thơm nhẹ và vẫn giữ độ dẻo sau khi để nguội.
Một giống khác là Hương Châu 6 có thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu tốt bệnh đạo ôn, năng suất ổn định 7-8 tấn/ha. Gạo dài, trong, cơm thơm, vị đậm, đáp ứng yêu cầu của thị trường gạo chất lượng cao.
"Điều quan trọng không phải tạo ra một giống mới, mà là tạo ra giống phù hợp với từng vùng sinh thái để nông dân có thể sản xuất hiệu quả và bán được giá cao", GS.TS Mai Văn Quyền nói.
Nếu nghiên cứu giống là một trụ cột thì phân bón là lĩnh vực GS.TS Mai Văn Quyền dành nhiều tâm huyết nhất trong hơn 25 năm gắn bó với Bình Điền.
Theo ông, mọi công thức phân bón mới đều được xây dựng từ việc phân tích các công trình khoa học trong và ngoài nước, sau đó tổ chức hàng trăm khảo nghiệm trên nhiều vùng sinh thái ở Việt Nam, Campuchia và Myanmar.
"Tôi luôn yêu cầu phải thử nghiệm trên đồng ruộng trước khi đưa ra thị trường. Chỉ khi nông dân thấy hiệu quả thì sản phẩm mới có giá trị", GS.TS Mai Văn Quyền bày tỏ.
Từ quá trình khảo nghiệm đó, các dòng phân bón Đầu Trâu liên tục được cải tiến theo từng loại cây, từng loại đất và từng vùng khí hậu. Nhiều công nghệ mới như chất ức chế thất thoát đạm Agrotain, hoạt chất tăng hiệu quả sử dụng lân Avail hay các tổ hợp vi lượng chuyên dùng được tích hợp nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón, giảm lượng phân thất thoát và giảm chi phí sản xuất.
Theo GS.TS Mai Văn Quyền, mục tiêu của nghiên cứu không phải là tạo ra loại phân bón đắt tiền nhất mà là loại phân bón mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người nông dân.
Chuyển giao tri thức để nông dân làm chủ khoa học

Không dừng ở nghiên cứu, GS.TS Mai Văn Quyền dành nhiều thời gian trực tiếp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
Ông tham gia tổ chức hàng trăm lớp tập huấn tại Việt Nam, Campuchia và Myanmar. Đồng thời, ông cũng xây dựng các mô hình trình diễn ngay trên đồng ruộng thông qua các chương trình như "Canh tác thông minh thích ứng biến đổi khí hậu", "Cánh đồng mẫu lớn", "Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP" hay "Từ ruộng vườn đến trường quay".
"Tôi mong sau mỗi lớp học, người nông dân không chỉ biết làm theo mà còn hiểu vì sao phải làm như vậy. Khi hiểu bản chất thì họ có thể tự điều chỉnh kỹ thuật cho phù hợp với ruộng của mình", vị giáo sư 90 tuổi tâm sự.
Theo ông, chính những "lớp học ngoài đồng" đã hình thành mạng lưới nông dân nòng cốt ở nhiều địa phương, trở thành lực lượng khuyến nông tại chỗ, góp phần lan tỏa các tiến bộ kỹ thuật một cách bền vững.
Khi Chính phủ triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp, GS.TS Mai Văn Quyền cùng Hội đồng Khoa học kỹ thuật Bình Điền tiếp tục nghiên cứu các dòng phân bón theo hướng xanh, giảm phát thải carbon, nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe đất.
Nhìn lại hơn sáu thập kỷ làm khoa học, ông cho rằng mọi thành quả đều là kết quả của sự phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân.
"Người nông dân luôn sẵn sàng tiếp nhận cái mới nếu họ thấy hiệu quả. Trách nhiệm của nhà khoa học là phải tạo ra những giải pháp vừa đúng về khoa học, vừa phù hợp với điều kiện sản xuất và túi tiền của bà con. Chỉ khi khoa học đi được đến ruộng đồng thì nghiên cứu mới thực sự có ý nghĩa", giáo sư Quyền bộc bạch.
Đó cũng là triết lý mà GS.TS Mai Văn Quyền vẫn theo đuổi ở tuổi 90, khi mỗi sáng kiến không chỉ dừng ở phòng thí nghiệm, mà được đo bằng năng suất trên cánh đồng, chất lượng hạt gạo và cuộc sống ngày càng tốt hơn của người nông dân.