Nông dân thực sự cần gì khi 'tiếp cận' nông nghiệp thông minh?
Từ đồng ruộng, nông dân mong vốn ưu đãi, đào tạo thực chất, công nghệ dễ dùng và liên kết đầu ra bền vững.
Từ cơ giới hóa đến nông nghiệp thông minh
Tại xã Vị Thanh 1, Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đang tạo nền tảng quan trọng cho thay đổi phương thức sản xuất. Ông Nguyễn Minh Phụng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vị Thanh 1, cho biết: "Diện tích tham gia đề án trên địa bàn khoảng 23.000 ha. Tỉ lệ cơ giới hóa kết hợp công nghệ trong chuẩn bị đất, gieo sạ và sử dụng thiết bị bay không người lái được ước tính xấp xỉ 100%. Nông dân sử dụng đồng bộ máy sạ lúa, máy phun thuốc và máy rải phân đạt khoảng 80%".

Tại Hợp tác xã (HTX) Đồng An Lợi, cơ giới hóa được ước tính khoảng 80-90% diện tích canh tác 100 ha. Ông Phạm Thái Hùng, Giám đốc HTX Đồng An Lợi xã Thạnh An (TP. Cần Thơ) cho biết: "HTX đã sử dụng drone để phun thuốc bảo vệ thực vật và bón phân. Thiết bị giúp giảm đáng kể lượng phân bón hóa học, hướng đến giảm chi phí và bảo vệ môi trường. Đây là biểu hiện cụ thể của nông nghiệp thông minh: công nghệ không chỉ thay con người thực hiện công việc, mà còn giúp sử dụng đầu vào chính xác hơn".
Tuy nhiên, cơ giới hóa cao chưa đồng nghĩa với số hóa toàn diện. Báo cáo tại HTX Đồng An Lợi cho thấy phần lớn xã viên và lao động là người lớn tuổi, khả năng tiếp thu công nghệ số còn chậm. Lực lượng thanh niên có vai trò kế thừa nhưng phân bố chưa đồng đều, tạo khoảng trống nhân lực công nghệ.
Đào tạo phải sát với đồng ruộng
Nhu cầu đầu tiên được nông dân đặt ra là đào tạo. Nhưng đó không chỉ là những buổi giới thiệu công nghệ, mà phải là chương trình thực hành, đủ thời gian và phù hợp từng nhóm đối tượng.
Ông Nguyễn Minh Phụng, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vị Thanh 1 kiến nghị: "Hội Nông dân cấp tỉnh phối hợp ngành Khuyến nông tổ chức các lớp tập huấn kĩ thuật dài ngày hơn, từ 1 -2 tuần mỗi đợt. Nội dung cần chú trọng chuyển đổi tư duy từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp thông minh, giúp người dân chủ động ứng dụng khoa học kĩ thuật".

Ông Phạm Thái Hùng cũng đề nghị tổ chức thường xuyên, nhân rộng các lớp tập huấn ngắn hạn để chuyển giao kĩ thuật và công nghệ mới. Việc đào tạo thường xuyên sẽ giúp nông dân lớn tuổi dần quen thuộc và giảm tâm lý e ngại trước công nghệ số.
Cách chuyển giao cũng được đề nghị phải tỉ mỉ, “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn cụ thể từng loại thiết bị để xã viên có thể tự thực hành.
Đào tạo dài ngày giúp hình thành kiến thức và tư duy; tập huấn thường xuyên giúp củng cố kĩ năng và duy trì việc sử dụng công nghệ. Một thiết bị hiện đại nếu người sử dụng không hiểu cách vận hành, không biết khai thác dữ liệu hoặc không duy trì quy trình kĩ thuật thì rất khó tạo ra hiệu quả bền vững.
Vốn ưu đãi để chủ động đầu tư
Công nghệ muốn đi vào sản xuất cần nguồn vốn. Máy gặt, máy sạ, máy phun thuốc, máy rải phân hay drone đều đòi hỏi chi phí đầu tư, trong khi nguồn lực của nông dân và hợp tác xã có giới hạn.
Chủ tịch Hội Nông dân xã Vị Thanh 1 kiến nghị: Nhà nước không nhất thiết hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt để mua máy móc, mà cần cơ chế giúp nông dân và hợp tác xã tiếp cận vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi.
Cách làm này tạo điều kiện để người sản xuất chủ động lựa chọn thiết bị phù hợp, đồng thời nâng trách nhiệm trong sử dụng vốn.

Khi có vốn thuận lợi, hợp tác xã có thể đầu tư thiết bị dùng chung, giảm tình trạng đầu tư phân tán ở từng hộ. Máy móc được khai thác thường xuyên sẽ phát huy hiệu quả tốt hơn, nhất là tại vùng sản xuất tập trung.
Tuy nhiên, vốn phải đi cùng hướng dẫn lựa chọn công nghệ, tính toán hiệu quả và tổ chức dịch vụ máy móc. Nếu đầu tư thiết bị nhưng thiếu nhân lực vận hành, thiếu kế hoạch sử dụng hoặc không có diện tích đủ lớn để khai thác, hiệu quả kinh tế sẽ bị hạn chế.
Liên kết đầu ra là điều kiện sống còn
Nông nghiệp thông minh không thể chỉ đo bằng số lượng máy móc hay thiết bị số trên đồng ruộng. Nông sản sản xuất theo nông nghiệp thông minh cuối cùng phải vào thị trường và tạo thu nhập ổn định. Đây là vấn đề được ông Nguyễn Minh Phụng, chủ tịch Hội nông dân xã Vị Thanh 1 nhấn mạnh.
Tư duy sản xuất của nhiều nông dân hiện nay vẫn manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Người dân dễ chạy theo biến động giá tức thời, trong khi liên kết giữa hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua còn lỏng lẻo. Hệ quả là tình trạng “được mùa rớt giá” có thể lặp lại qua các vụ.
Từ góc nhìn người sản xuất, liên kết sản xuất và tiêu thụ là vấn đề sống còn. Nếu thiếu chuỗi bền vững, nông dân dễ thua lỗ, đứt gãy sản xuất.
Phát triển kinh tế tập thể, nâng vai trò HTX và tháo gỡ đầu ra ổn định là những đề xuất then chốt. Khi thị trường và hợp đồng tiêu thụ rõ ràng, người dân mới có cơ sở lập kế hoạch sản xuất, lựa chọn giống, đầu tư máy móc, áp dụng quy trình kĩ thuật và kiểm soát chi phí. Hội Nông dân Vị Thanh 1 cũng xác định phát triển kinh tế tập thể và tìm giải pháp ổn định đầu ra là hướng quan trọng để hạn chế tình trạng 'ép giá' vào vụ thu hoạch.
Những kiến nghị từ Hội nông dân xã Vị Thanh 1 và HTX Đồng An Lợi cho thấy nông dân không đứng ngoài quá trình chuyển đổi. Họ đã sử dụng máy móc, drone và từng bước tiếp cận công nghệ thông minh. Điều họ cần là hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, trong đó công nghệ phải đi cùng vốn, đào tạo và thị trường.
Cơ quan quản lí vì vậy không nên chỉ đưa thiết bị xuống ruộng, mà cần xây dựng mô hình để nông dân hiểu, sử dụng và đánh giá hiệu quả công nghệ. Hợp tác xã cần được xem là hạt nhân tổ chức sản xuất, đào tạo và cung cấp dịch vụ công nghệ cho thành viên.
Nông dân không ngại công nghệ, nhưng công nghệ phải phù hợp, dễ tiếp cận và tạo hiệu quả thực tế. Họ cần vốn để đầu tư, cần được đào tạo đủ sâu, cần người hướng dẫn tận tay và cần chuỗi tiêu thụ bền vững. Khi những yêu cầu ấy được đáp ứng, chuyển đổi số sẽ trở thành năng lực mới ngay trên từng thửa ruộng.

-de45cf8dc536d835747c0af90967fa6d.jpg)

