Từ sai phạm tại dự án sân bay Long Thành: Bịt kín lỗ hổng pháp lý, ngăn chặn thất thoát tài sản Nhà nước
Sai phạm tại sân bay Long Thành (TP. Đồng Nai) đặt ra vấn đề về trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan và phơi bày những khoảng trống trong cơ chế quản lý đầu tư công và đấu thầu.

Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, Thạc sĩ-Luật sư Đỗ Văn Vinh - Giám đốc Công ty Luật Đức Việt (Đoàn Luật sư TP. Đồng Nai) phân tích các căn cứ pháp lý đối với những sai phạm được Thanh tra Chính phủ chỉ ra. Đồng thời cho rằng đã đến lúc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để bịt kín các lỗ hổng, ngăn chặn thất thoát tài sản nhà nước ngay từ gốc.
Chuyển nhượng thầu trái phép có thể đối mặt mức án tới 20 năm tù
- Thưa Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị chuyển hồ sơ sang Bộ Công an để điều tra dấu hiệu chuyển nhượng thầu trái phép tại Dự án thành phần 2 và Dự án thành phần 3 của sân bay Long Thành. Dưới góc độ pháp lý, hành vi này có thể bị xử lí về tội danh nào và mức án cao nhất là bao nhiêu?
- Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh: Hành vi chuyển nhượng thầu trái phép tại các gói thầu dự án đầu tư công đã có đầy đủ căn cứ pháp lý để xem xét trách nhiệm hình sự. Cụ thể, căn cứ Điểm a, Khoản 8, Điều 89 Luật Đấu thầu năm 2013 và Điểm g, Khoản 1, Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi nhà thầu chuyển nhượng cho nhà thầu khác phần công việc thuộc gói thầu trái quy định là một trong các hành vi cấu thành Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng khi gây thiệt hại tài sản cho Nhà nước từ 100.000.000 đồng trở lên.

Về mức hình phạt cao nhất, trường hợp quá trình điều tra của cơ quan công an xác định hành vi vi phạm này gây thiệt hại cho tài sản nhà nước từ 1.000.000.000 đồng trở lên, các cá nhân vi phạm sẽ bị áp dụng khung hình phạt quy định tại Khoản 3, Điều 222, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức án phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn phải chịu hình phạt bổ sung theo Khoản 4, Điều 222, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Việc nhà thầu liên danh Vietur dự thầu và kí hợp đồng bằng đồng USD sai quy định, dẫn đến nguy cơ gây thất thoát vốn nhà nước do biến động tỉ giá, sẽ bị xử lí trách nhiệm dân sự hay hình sự đối với các cá nhân phê duyệt của ACV?
- Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh: Việc phê duyệt cho nhà thầu tham gia dự thầu và kí hợp đồng bằng ngoại tệ USD khi không thuộc trường hợp được pháp luật cho phép là hành vi vi phạm quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Quản lí ngoại hối năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013 và quy định về đồng tiền dự thầu tại Luật Đấu thầu năm 2013. Tùy thuộc vào yếu tố lỗi và hậu quả thiệt hại thực tế phát sinh do chênh lệch tỉ giá, các cá nhân phê duyệt tại ACV sẽ bị xử lí cả trách nhiệm dân sự lẫn trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 584, Bộ luật Dân sự năm 2015, các cá nhân có quyết định phê duyệt trái quy định có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất thực tế phát sinh cho doanh nghiệp và Nhà nước. Về trách nhiệm hình sự, nếu quá trình điều tra chứng minh được cá nhân có thẩm quyền cố ý phê duyệt trái pháp luật gây thất thoát tài sản nhà nước từ 100.000.000 đồng trở lên, hành vi đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về quản lí, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí theo Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trường hợp sai phạm xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng hoặc không thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định, phê duyệt gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên, cá nhân vi phạm sẽ bị xử lí về Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kí hợp đồng bằng USD, dùng tiền tạm ứng gửi tiết kiệm: Sai phạm không chỉ dừng ở xử phạt hành chính
- Tài liệu chỉ ra nhiều nhà thầu chính (như TCT 36 CTCP, Liên danh Vietur) đã kí thầu phụ vượt tỉ lệ hoặc giao việc cho đơn vị chưa được chủ đầu tư chấp thuận. Theo quy định về hợp đồng xây dựng, chủ đầu tư (VATM, ACV) có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc phạt vi phạm tối đa bao nhiêu % giá trị hợp đồng trong trường hợp này?
- Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh: Việc nhà thầu chính tự ý kí hợp đồng thầu phụ vượt tỉ lệ hoặc giao việc cho các đơn vị khi chưa được sự chấp thuận của chủ đầu tư là hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng xây dựng.

Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 145 Luật Xây dựng năm 2014, chủ đầu tư hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng xây dựng khi bên nhận thầu vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng.
Về mức phạt vi phạm, đối với hợp đồng xây dựng dự án đầu tư công, căn cứ Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng năm 2014, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng tối đa không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm. Do đó, các chủ đầu tư như VATM hay ACV có đầy đủ cơ sở pháp lí để ban hành văn bản đơn phương chấm dứt hợp đồng, áp dụng mức phạt vi phạm tối đa lên đến 12% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm và yêu cầu nhà thầu bồi toàn bộ thiệt hại thực tế phát sinh.
- Việc 8/10 nhà thầu trong Liên danh Vietur dùng tiền tạm ứng để gửi tiết kiệm lấy lãi chưa đúng mục đích sẽ bị thu hồi và xử lý như thế nào? Phần tiền lãi phát sinh (hơn 10,6 tỉ đồng) về mặt pháp lý sẽ thuộc sở hữu của nhà thầu hay phải tịch thu hoàn trả cho ACV?
- Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh: Nguồn tiền tạm ứng hợp đồng là nguồn vốn được Nhà nước và chủ đầu tư giao cho nhà thầu để phục vụ duy nhất mục đích chuẩn bị, triển khai thi công gói thầu.
Việc các nhà thầu mang nguồn tiền này gửi tiết kiệm ngân hàng thu lãi là hành vi sử dụng tiền tạm ứng sai mục đích. Căn cứ Khoản 5, Điều 18, Nghị định số 37/2015/NĐ CP được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 50/2021/NĐ CP, khi bên nhận thầu sử dụng tiền tạm ứng không đúng mục đích, bên giao thầu có quyền thu hồi toàn bộ số tiền tạm ứng đã cấp.
Về số tiền lãi phát sinh hơn 10,6 tỉ đồng, căn cứ Khoản 1, Điều 579, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 581, Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ hoàn trả tài sản và lợi tức thu được từ việc chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật, khoản tiền lãi này được sinh ra trực tiếp từ việc sử dụng trái phép nguồn vốn dự án nên nhà thầu không có quyền sở hữu. Toàn bộ khoản lợi tức hơn 10,6 tỉ đồng này phải bị tịch thu và hoàn trả cho ACV để nộp lại ngân sách hoặc xử lí theo quy định tài chính của Nhà nước.
Hoàn thiện Luật Đấu thầu để chặn thất thoát vốn nhà nước từ kẽ hở pháp luật
- Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Bộ Tài chính cần sửa đổi văn bản pháp luật để định nghĩa rõ hơn về "chi phí trong nước", "chi phí ngoài nước" và "phần công việc" thuộc gói thầu. Theo ông, sự thiếu rõ ràng của các quy định hiện hành này đã tạo ra những lỗ hổng pháp lý cụ thể nào khiến cả chủ đầu tư và các nhà thầu lớn đều dễ mắc sai phạm?
- Thạc sĩ - Luật sư Đỗ Văn Vinh: Việc thiếu hụt các định nghĩa kĩ thuật rõ ràng trong hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Đấu thầu năm 2013 và các quy định về hợp đồng xây dựng tại Nghị định số 37/2015/NĐ CP đã tạo ra những lỗ hổng pháp lý lớn.

Đầu tiên là lỗ hổng về quản lý ngoại hối và giá hợp đồng. Khi khái niệm chi phí trong nước và chi phí ngoài nước chưa được định lượng bằng tiêu chuẩn cụ thể, các nhà thầu có thể dễ dàng hợp thức hóa các chi phí phát sinh nội địa thành chi phí ngoại tệ USD để lập hồ sơ dự thầu. Điều này gây nguy cơ làm tăng tổng mức đầu tư và thất thoát vốn nhà nước khi tỉ giá biến động.
Mặt khác là lỗ hổng trong việc kiểm soát chuyển nhượng thầu. Việc quy định không rõ ràng thế nào là một phần công việc của gói thầu khiến nhà thầu chính lợi dụng để xé nhỏ công trình. Đồng thời chuyển giao khối lượng thi công lớn cho các nhà thầu phụ chưa qua thẩm định năng lực dưới hình thức hợp đồng mua sắm thiết bị hoặc dịch vụ.
Cuối cùng là lỗ hổng trong quản lý nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Sự mập mờ giữa chi phí trong nước và ngoài nước tạo cơ sở cho nhà thầu kê khai nghĩa vụ tài chính không phản ánh đúng bản chất giao dịch. Việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật của Thanh tra Chính phủ là hoàn toàn chuẩn xác nhằm bịt kín các lỗ hổng này trong quản lý đầu tư công.


