Nhịp đập công nghệ

3.500 trẻ em Việt mắc ung thư mỗi năm: Những điểm nghẽn cần tháo gỡ để cứu bệnh nhi

Hồ Quang 31/07/2026 13:30

Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 3.500 trẻ mắc ung thư. Các chuyên gia cảnh báo nhiều điểm nghẽn trong chẩn đoán, điều trị và phát triển nguồn nhân lực đang ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội sống của bệnh nhi.

Trong khi ung thư ở người lớn luôn nhận được sự quan tâm lớn từ xã hội, ung thư trẻ em vẫn là một "khoảng trống" trong nhận thức cộng đồng cũng như trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 3.000–3.500 trẻ mắc ung thư, nhưng việc chẩn đoán muộn, quá tải tại các trung tâm chuyên sâu và thiếu nhân lực đang trở thành những rào cản khiến nhiều trẻ đánh mất cơ hội được chữa khỏi.

Ung thư trẻ em không hiếm như nhiều người vẫn nghĩ

Khi nhắc đến ung thư, phần lớn mọi người thường liên tưởng đến những căn bệnh ở người trưởng thành như ung thư phổi, ung thư vú hay ung thư dạ dày. Chính cách nhìn này vô tình khiến ung thư trẻ em trở thành một lĩnh vực ít được quan tâm, dù hậu quả để lại vô cùng nặng nề.

3.500-tre-em-viet-mac-ung-thu-moi-nam-nhung-diem-nghen-canthao-go-de-cuu-bneh-nhi-hinh-anh.png
BSCKII Nguyễn Đình Văn, Trưởng khoa Ung bướu Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2 (ngồi giữa) chia sẻ về thực trạng và điểm nghẽn trong điều trị ung thư nhi tại Việt Nam - Ảnh: PV

Chia sẻ tại hội thảo "Cuộc chiến chống ung thư: Cần bước đột phá toàn diện" do Báo Tiền Phong tổ chức ngày 31/7, BSCKII Nguyễn Đình Văn, Trưởng khoa Ung bướu Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 2, nhấn mạnh ung thư trẻ em không phải là một "góc khuất vô hình" mà là vấn đề cấp thiết cần được nhìn nhận đúng mức trong chiến lược chăm sóc sức khỏe quốc gia.

Theo ông, nhận thức xã hội lâu nay vẫn mặc định ung thư là bệnh của người lớn, khiến các dấu hiệu ở trẻ dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với những bệnh lí thông thường.

Theo ước tính dựa trên tỉ lệ mắc trung bình toàn cầu khoảng 150 ca trên một triệu trẻ mỗi năm, với khoảng 23 triệu trẻ dưới 15 tuổi, Việt Nam có từ 3.000 đến 3.500 ca ung thư trẻ em mới mỗi năm. Đây là con số đủ lớn để đặt ra yêu cầu phải đầu tư bài bản hơn cho lĩnh vực ung thư nhi.

Thực tế tại Bệnh viện Nhi đồng 2 cho thấy áp lực điều trị ngày càng lớn. Tính đến giữa năm 2026, Khoa Ung bướu Huyết học đang quản lí hơn 1.670 bệnh nhân. Chỉ trong giai đoạn 2024–2025, khoa tiếp nhận khoảng 400 ca ung thư mới, trong đó bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL) chiếm tỉ lệ cao và mỗi đợt điều trị thường kéo dài khoảng 10 ngày.

Theo BSCKII Nguyễn Đình Văn, số ca điều trị tăng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc tỉ lệ mắc bệnh gia tăng, mà phản ánh năng lực phát hiện bệnh tại các cơ sở y tế tuyến dưới đã được cải thiện, giúp chuyển tuyến kịp thời hơn. Tuy nhiên, điều này cũng khiến các trung tâm chuyên sâu rơi vào tình trạng quá tải kéo dài khi nguồn nhân lực, giường bệnh và cơ sở vật chất chưa được bổ sung tương xứng.

Ông cho rằng, nếu trẻ phải mất nhiều thời gian mới được chẩn đoán hoặc phải chờ điều trị do quá tải, cơ hội chữa khỏi sẽ giảm đáng kể. Với ung thư trẻ em, thời gian luôn là yếu tố quyết định kết quả điều trị.

Đầu tư cho ung thư nhi mang lại hiệu quả xã hội rất lớn

Khác với nhiều loại ung thư ở người trưởng thành, phần lớn ung thư trẻ em đáp ứng tốt với hóa trị nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng phác đồ.

Theo BSCKII Nguyễn Đình Văn, tại các trung tâm ung bướu nhi ở Việt Nam, tỉ lệ bệnh nhi ung thư được chữa khỏi đã vượt 70%, trong khi Tổ chức Y tế Thế giới đặt mục tiêu đạt tỉ lệ sống trên 60% đối với ung thư trẻ em vào năm 2030.

"Như vậy, nếu chỉ tính bệnh nhi ung thư được cứu sống thì tỉ lệ này ở Việt Nam còn cao hơn", bác sĩ Văn nói.

Điều này đồng nghĩa mỗi bệnh nhi được cứu sống sẽ có thêm hàng chục năm học tập, lao động và đóng góp cho xã hội.

BSCKII Nguyễn Đình Văn nhận định đây là một trong những lĩnh vực mang lại hiệu quả đầu tư cao nhất của ngành ung thư học. Theo ông, cứu sống một trẻ mắc ung thư không chỉ là cứu một sinh mạng mà còn là bảo vệ tương lai của cả một thế hệ. Vì vậy, thay vì coi ung thư nhi là nhóm bệnh hiếm, cần xem đây là một trong những ưu tiên dài hạn của hệ thống y tế.

Cần tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn của hệ thống

Theo các chuyên gia, bài toán ung thư nhi hiện nay không chỉ nằm ở thuốc điều trị mà còn ở toàn bộ chuỗi chăm sóc người bệnh.

BSCKII Nguyễn Đình Văn cho rằng điều cấp thiết là xây dựng mạng lưới điều trị theo hướng phân tầng, trong đó các bệnh viện tuyến cuối giữ vai trò trung tâm chuyên sâu, còn tuyến dưới đủ năng lực theo dõi điều trị duy trì, xử trí các biến chứng thường gặp và chăm sóc hỗ trợ. Cách tiếp cận này sẽ góp phần giảm tải cho các bệnh viện lớn, đồng thời giúp gia đình bệnh nhi giảm đáng kể chi phí đi lại cũng như nguy cơ bỏ điều trị.

Bên cạnh đó, ông cũng cảnh báo tình trạng thiếu bác sĩ và điều dưỡng chuyên ngành ung bướu nhi. Đây là lĩnh vực có cường độ làm việc rất cao, đòi hỏi kiến thức liên ngành cùng áp lực tâm lí lớn, nhưng chính sách đãi ngộ và đào tạo vẫn chưa tương xứng. Nếu không có chiến lược phát triển nguồn nhân lực lâu dài, tình trạng quá tải sẽ ngày càng nghiêm trọng.

Ngoài việc mở rộng phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế, chuyên gia cho rằng cần có các chính sách hỗ trợ toàn diện hơn cho gia đình bệnh nhi, từ chi phí đi lại, nơi ở đến an sinh xã hội trong suốt quá trình điều trị. Trên thực tế, nhiều gia đình phải từ bỏ điều trị không phải vì thuốc quá đắt mà vì không còn đủ khả năng duy trì cuộc sống trong thời gian con nằm viện kéo dài.

Theo BSCKII Nguyễn Đình Văn, ung thư trẻ em hoàn toàn có thể đạt kết quả điều trị khả quan nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng và có một hệ thống y tế đủ năng lực đồng hành cùng người bệnh. Đầu tư cho ung thư nhi hôm nay không chỉ giúp cứu sống hàng nghìn trẻ em mỗi năm mà còn là khoản đầu tư cho chất lượng nguồn nhân lực và tương lai của đất nước.

Hồ Quang