Nông nghiệp thông minh

59 bao lúa và hành trình chuyển đổi số ở vùng biên Ea Súp, Đắk Lắk

Kim Ngọc 09/08/2026 13:30

Từ 59 bao lúa trên cánh đồng Ya Tơ Mốt, câu chuyện chuyển đổi số nông nghiệp ở Ea Súp, Đắk Lắk đang mở ra một cách làm khác. Đó là, HTX không chỉ thu mua nông sản, mà từng bước tổ chức vùng nguyên liệu, quản lý dữ liệu và đưa sản phẩm đến những thị trường có giá trị cao hơn.

Chuyển đổi số nông nghiệp từ 59 bao lúa

59 bao lúa được thu mua từ cánh đồng Ya Tơ Mốt. Con số không lớn nếu đặt cạnh những vùng sản xuất hàng hóa hàng trăm, hàng nghìn hecta. Nhưng với Ea Súp, Đắk Lắk phía sau những bao lúa ấy là câu chuyện về cách một hợp tác xã đang thay đổi phương thức làm nông nghiệp.

HTX Hữu cơ Đắk Lắk hiện tổ chức khoảng 75 ha lúa gạo hữu cơ, cùng 10 ha thủy sản và nhiều mô hình sản xuất khác như ớt, xoài, lợn đen, gà, vịt, cá, dúi. Trong chuỗi liên kết tại Ea Súp, lúa Japonica được lựa chọn là một trong những đối tượng sản xuất quan trọng, bên cạnh các mô hình đang được thử nghiệm để tìm hướng đi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và nhu cầu thị trường.

HTX thu mua lúa gạo cho người dân. Ảnh: HL
HTX thu mua lúa gạo cho người dân. Ảnh: HL

Những con số ấy cho thấy tiềm năng sản xuất. Nhưng với ông Nguyễn Phi Hồng Ngọc, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Hữu cơ Đắk Lắk, có đất, có người sản xuất và có nông sản mới chỉ là điểm bắt đầu.

Trao đổi với Một Thế Giới, ông Nguyễn Phi Hồng Ngọc, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Hữu cơ Đắk Lắk chia sẻ: “Trước đây, cái khó của HTX là quản lý vùng trồng và chưa có kế hoạch cụ thể để phát triển thị trường. Nông sản làm ra chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu thô, giá cả phụ thuộc vào thị trường nên không gia tăng được giá trị sản phẩm”.

Bài toán vì thế không chỉ là làm ra nhiều hơn, mà là làm thế nào để biết chính xác mình đang có gì, sản xuất ra sao và có thể đưa sản phẩm đến đâu.

Đó cũng là lúc câu chuyện chuyển đổi số nông nghiệp bắt đầu từ một việc tưởng như rất căn bản: quản lý cánh đồng.

Từ cánh đồng đến một “dòng dữ liệu sống”

Ở Ea Súp, số hóa không được đặt ra như việc đưa thêm một phần mềm vào sản xuất. Với HTX, điều quan trọng hơn là tạo ra được dữ liệu đủ tin cậy để phục vụ việc tổ chức vùng nguyên liệu.

Khi vùng trồng được số hóa, HTX có thể theo dõi từng mô hình sản xuất, diện tích, vị trí, loại cây trồng, số hộ tham gia, thời điểm gieo trồng, thu hoạch cũng như quá trình sinh trưởng của cây. Nhưng bản đồ chỉ trả lời câu hỏi “ở đâu”. Điều HTX cần biết tiếp theo là “đã làm gì” và “hiệu quả thế nào”.

Khi dữ liệu được tổ chức theo từng vùng, từng mô hình và từng quá trình sản xuất, HTX có thêm cơ sở để trả lời những câu hỏi cụ thể hơn như mô hình nào đang hiệu quả, khu vực nào phù hợp với loại cây trồng nào, sản lượng dự kiến ra sao, chất lượng thế nào và cần điều chỉnh điều gì trong vụ tiếp theo. Ảnh: HL
Khi dữ liệu được tổ chức theo từng vùng, từng mô hình và từng quá trình sản xuất, HTX có thêm cơ sở để trả lời những câu hỏi cụ thể hơn như mô hình nào đang hiệu quả, khu vực nào phù hợp với loại cây trồng nào, sản lượng dự kiến ra sao, chất lượng thế nào và cần điều chỉnh điều gì trong vụ tiếp theo. Ảnh: HL

Vì vậy, nhật ký canh tác điện tử được xây dựng gắn với từng vùng sản xuất, từng hộ dân và từng quy trình cây trồng. Thay vì chờ đến cuối vụ mới tổng hợp số liệu, dữ liệu được tạo ra trong quá trình sản xuất.

“Điểm khác biệt là số hóa vùng trồng phải trở thành dòng dữ liệu sống, được đơn giản hóa bằng việc nhập liệu theo đúng quy trình sản xuất và cơ chế sinh trưởng của cây trồng. Dữ liệu phải được tạo ra từ thực tế sản xuất chứ không phải làm cho đủ hồ sơ”, ông Ngọc nhấn mạnh.

Trước đây, HTX có thể biết mình có bao nhiêu diện tích, bao nhiêu hộ tham gia. Nhưng khi dữ liệu được tổ chức theo từng vùng, từng mô hình và từng quá trình sản xuất, HTX có thêm cơ sở để trả lời những câu hỏi cụ thể hơn như mô hình nào đang hiệu quả, khu vực nào phù hợp với loại cây trồng nào, sản lượng dự kiến ra sao, chất lượng thế nào và cần điều chỉnh điều gì trong vụ tiếp theo.

“Chúng tôi có thể biết được mô hình nào đang hiệu quả, chất lượng và sản lượng như thế nào, có phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của từng khu vực hay không. Từ đó mới có cơ sở để tổ chức lại sản xuất”, ông Ngọc cho biết.

Đây là điểm đáng chú ý trong câu chuyện chuyển đổi số ở Ea Súp. Dữ liệu không đứng bên ngoài cánh đồng mà quay trở lại phục vụ cánh đồng. Và khi dữ liệu đã được tạo ra liên tục, câu chuyện tiếp theo không còn đơn thuần là sản xuất, mà là giá trị của nông sản.

Khi dữ liệu đi cùng hạt gạo ra thị trường

Một trong những hạn chế lớn của nông sản sản xuất manh mún là rất khó chứng minh nó được tạo ra như thế nào.

Một bao gạo có thể đẹp, ngon, nhưng nếu không biết rõ vùng trồng ở đâu, ai sản xuất, quy trình ra sao, sử dụng vật tư gì và quá trình canh tác được kiểm soát thế nào, cơ hội bước vào những thị trường yêu cầu cao vẫn rất hạn chế.

Với bản đồ số vùng trồng, nhật ký canh tác điện tử và hệ thống truy xuất, mỗi sản phẩm không chỉ có câu chuyện để kể mà còn có dữ liệu để chứng minh.

Ban do soHệ thống số hóa vùng trồng lúa gạo và chợ số nông sản.Ảnhchụpmànhình

Theo ông Ngọc, sự thay đổi đã thể hiện ở thị trường. HTX không còn chỉ bán lúa dưới dạng nguyên liệu mà đã có thể đưa gạo trực tiếp đến khách hàng và từng bước tiếp cận các kênh xuất khẩu.

“Chúng tôi đã mở rộng được nhiều thị trường, không chỉ bán lúa thô mà còn bán gạo trực tiếp cho khách hàng, đồng thời tiếp cận các kênh xuất khẩu để từng bước định hình hướng xuất khẩu gạo”, ông nói.

Sản phẩm gạo của HTX hiện đã được đưa vào một số chuỗi cửa hàng nông sản tại TP.HCM, Hà Nội, Nha Trang và Đà Nẵng.

Điều đáng nói, theo ông Ngọc, giá trị sản phẩm tăng lên không chỉ nhờ chất lượng thực của hạt gạo mà còn nhờ khả năng chứng minh chất lượng và xác định được nguồn gốc.

“Giá trị sản phẩm tăng lên từ việc giới thiệu được sản phẩm, chứng minh được chất lượng và định vị được vị trí địa lý của nông sản”, ông Ngọc chia sẻ. Để một hạt lúa có thể đi xa hơn, vì thế, không thể chỉ dựa vào người trồng.

Trong chuỗi liên kết tại Ea Súp, HTX Hữu cơ Đắk Lắk cùng HTX Ea Súp và HTX Hữu cơ Ea Súp tham gia tổ chức vùng nguyên liệu, trong khi HTX Hữu cơ Lúa Xanh đảm nhiệm kết nối thị trường xuất khẩu. Ở phía sau vùng sản xuất là Công ty TNHH TM Tụ Nguyên với các công đoạn sơ chế, sấy, bảo quản và đóng gói. Hệ thống tài chính có sự tham gia của Ngân hàng Nam Á; các đơn vị khoa học, trong đó có Học viện Nông nghiệp Việt Nam, được kết nối để hỗ trợ kỹ thuật.

Như vậy, cây lúa không còn đứng một mình trên cánh đồng. Nó nằm trong một chuỗi gồm sản xuất, dữ liệu, tài chính, chế biến và thương mại. Và trong chuỗi ấy, HTX đang chuyển dần từ vị trí của một đơn vị thu mua sang vai trò tổ chức và điều phối vùng nguyên liệu.

Chuyển đổi số nông nghiệp chỉ có ý nghĩa khi quay trở lại cánh đồng

Ba lớp đang được xây dựng trong hệ thống của Ea Súp gồm bản đồ số vùng trồng, nhật ký canh tác số và chợ thương mại số.

Nếu bản đồ cho biết vùng nguyên liệu nằm ở đâu, nhật ký cho biết sản phẩm được tạo ra như thế nào thì chợ số trả lời câu hỏi sản phẩm sẽ đi đến đâu?

chuyen doi so nong nghiep (7)

HTX Hữu cơ Đắk Lắk phát triển hệ thống bán lẻ và chợ số Dakoco; HTX Hữu cơ Ea Súp xây dựng kênh thương mại điện tử tại địa phương; HTX Hữu cơ Lúa Xanh kết nối với các thị trường xuất khẩu.

Điểm đáng chú ý là chợ số không chỉ hướng đến bán lẻ. Khi dữ liệu vùng trồng, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn sản phẩm được chuẩn hóa, những thông tin đó có thể trở thành một phần hồ sơ thương mại để kết nối với các đối tác lớn hơn.

Nhưng càng nhiều dữ liệu, câu hỏi về quyền quản lý và an toàn dữ liệu càng trở nên quan trọng.

Theo ông Ngọc, dữ liệu vùng trồng hiện do HTX quản lý. HTX đồng thời xây dựng phương án lưu trữ dự phòng và lưu trữ văn bản để hạn chế rủi ro nếu hệ thống công nghệ gặp sự cố.

“Dữ liệu rất quan trọng đối với chuỗi liên kết trong việc tối ưu chi phí cho toàn hệ thống, nên việc đảm bảo an toàn dữ liệu luôn được HTX quan tâm”, ông Ngọc nhấn mạnh.

Những hạt lúa được thu mua không chỉ là sản phẩm nông nghiệp, mà là kết tinh của quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật, theo dõi đồng ruộng chặt chẽ và sự đồng hành xuyên suốt của HTX với người nông dân. Ảnh: HL
Những hạt lúa được thu mua không chỉ là sản phẩm nông nghiệp, mà là kết tinh của quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật, theo dõi đồng ruộng chặt chẽ và sự đồng hành xuyên suốt của HTX với người nông dân. Ảnh: HL

Nhìn từ câu chuyện này, chuyển đổi số ở Ea Súp không còn đơn thuần là câu chuyện về công nghệ. Nó là câu chuyện về năng lực quản trị của một HTX.

Một HTX chỉ đứng ra mua bán nông sản sẽ khó tạo ra nhiều khác biệt. Nhưng nếu HTX biết vùng nguyên liệu của mình đang vận hành thế nào, hộ nào đang sản xuất, sản phẩm đang ở đâu, chất lượng ra sao, nhà máy cần bao nhiêu nguyên liệu và thị trường đang cần gì, vai trò ấy đã khác.

Ông Ngọc ví hệ thống số hóa như “mạch máu” của chuỗi liên kết. “Chuỗi liên kết giống như một cơ thể, còn hệ thống số hóa giống như mạch máu chảy liên tục để hệ thống vận hành mạnh mẽ, đồng bộ”, ông nói. Có lẽ đó cũng là cách nhìn giản dị nhất về câu chuyện chuyển đổi số nông nghiệp ở Ea Súp.

Điểm đáng quan tâm không phải là một HTX có thêm một ứng dụng, một bản đồ số hay một chợ trực tuyến. Điều quan trọng hơn là những dữ liệu được tạo ra từ cánh đồng có giúp người nông dân sản xuất hiệu quả hơn, HTX quản trị tốt hơn, doanh nghiệp yên tâm hơn và người mua tin tưởng hơn hay không. 59 bao lúa từ Ya Tơ Mốt, xét về lượng, có thể chưa phải một con số lớn.

Nhưng nếu từ những bao lúa ấy hình thành được một vùng nguyên liệu có dữ liệu, một chuỗi sản xuất có khả năng truy xuất và một thị trường không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý, thì giá trị của câu chuyện đã nằm ở một nơi khác.

Kim Ngọc