Nông nghiệp thông minh

Một làng nghề đặc sản ở Phú Thọ dùng cách nào để từ làng 'đi' sang Nhật Bản, Đài Loan?

Nguyên An 08/08/2026 18:30

Những phên mì vẫn phơi nắng bên dòng sông Lô, nhưng cách bán hàng đã khác. Từ đầu tư máy móc đến chuyển đổi số trong quảng bá, phân phối, HTX Mì gạo Hùng Lô đang đưa sản phẩm làng nghề vượt khỏi sân làng, sang những thị trường như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc).

Mì gạo Hùng Lô: Nghề cũ, cách làm mới

Làng cổ Hùng Lô nằm bên dòng sông Lô, nay thuộc phường Vân Phú, tỉnh Phú Thọ. Mảnh đất hơn 300 năm tuổi này vẫn giữ được dáng dấp của một làng quê trung du với những nếp nhà, con đường làng và nhiều nghề truyền thống.

Nghề làm mì gạo ở đây có từ bao giờ, chẳng ai nhớ rõ. Chỉ biết trong ký ức của nhiều thế hệ, nhà nhà làm mì, người người làm mì. Những ngày trời nắng, phên mì trắng ngà nối nhau trước sân, ven ngõ. Gạo quê qua bàn tay người thợ trở thành những sợi mì nhỏ, trắng, dai, nấu không bị nát.

Mỳ gạo Hùng Lô 2
Mì gạo Hùng Lô được người tiêu dùng đánh giá cao nhờ đặc tính sợi mì dai, ngon, thơm hương vị đồng quê.

Với người Hùng Lô, đó không chỉ là một nghề kiếm sống. Đó còn là một phần của làng, của ký ức và là thứ mà nhiều người muốn giữ lại cho con cháu. Nhưng giữ nghề không có nghĩa là cứ làm mãi theo cách cũ.

Trước đây, nghề làm mì chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, thủ công. Các công đoạn phụ thuộc nhiều vào sức người và thời tiết. Quá trình xử lý bột kéo dài, nước thải từ quá trình lên men tạo ra mùi chua, ảnh hưởng đến môi trường.

Tháng 6/2016, HTX Mì gạo Hùng Lô được thành lập với 9 thành viên. Ông Cao Đăng Duy, Giám đốc HTX, sinh ra trong một gia đình có ba đời làm mì gạo. Từ những ngày đầu, ông và các thành viên đã xác định muốn đưa nghề đi xa thì phải thay đổi.

Các hộ góp vốn mua nguyên liệu, vay vốn đầu tư máy móc, từng bước thay thế phương thức sản xuất thủ công. Sản phẩm được đăng ký nhãn hiệu, đầu tư bao bì, tem mác và xây dựng thương hiệu Mì gạo Hùng Lô.

Nhìn trên bức tường trong phòng làm việc của HTX, những tấm chứng nhận HACCP, ISO 9001:2015, OCOP 4 sao, 5 sao được xếp ngay ngắn. Đó là dấu mốc cho một chặng đường mà người làm mì đã đi từ sản xuất theo kinh nghiệm sang chú trọng tiêu chuẩn và chất lượng.

Với ông Duy, làm ra sản phẩm tốt mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là làm thế nào để người ở xa cũng biết đến mì Hùng Lô.

Đưa sợi mì gạo Hùng Lô lên môi trường số

Mỳ gạo Hùng Lô1
Cùng với thị trường nội địa, các đơn hàng xuất khẩu sang Nhật Bản, Đài Loan được duy trì đều đặn. Đến nay, HTX có 3 dòng sản phẩm đạt OCOP 4 sao và 1 dòng sản phẩm đạt OCOP 5 sao; được trao giải thưởng Mai An Tiêm – Sản phẩm tiêu biểu của HTX năm 2024 (Coop Gold Product Awards 2024). Ảnh: NVCC

Nếu trước đây khách hàng muốn mua mì Hùng Lô phải biết đến làng, tìm đến cơ sở sản xuất hoặc thông qua người quen, thì nay cách tiếp cận đã khác.

Sau khi xây dựng thương hiệu, HTX bắt đầu chú trọng hơn đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá, mua bán và phân phối sản phẩm. Thông tin về sản phẩm được đưa đến người tiêu dùng bằng những cách nhanh hơn, rộng hơn.

Việc kết nối với khách hàng, đại lý, đối tác cũng không còn chỉ dựa vào những cuộc gặp trực tiếp. Đó là phần dễ nhìn thấy nhất trong câu chuyện chuyển đổi số của một làng nghề như Hùng Lô.

Không có những hệ thống công nghệ quá phức tạp. Chuyển đổi số ở HTX Mì gạo Hùng Lô bắt đầu từ chuyện làm sao để một người ở cách Hùng Lô hàng trăm cây số vẫn biết có mì gạo Hùng Lô và có thể tìm mua sản phẩm ấy.

Từ đó, sản phẩm từng bước có mặt tại nhiều tỉnh, thành, các đại lý bán lẻ và chuỗi siêu thị lớn.

Chia sẻ với chúng tôi, ông Cao Đăng Duy nói: “Địa phương xã Hùng Lô chúng tôi trong đó có mì gạo Hùng Lô từ đó quảng bá được trong tỉnh và ngoài tỉnh cũng như trên thế giới, để biết được cái nét đẹp văn hóa mà gìn giữ được từ cha ông đã để lại và từ đó sẽ phát huy được cái thế mạnh của cái làng nghề truyền thống.”

487524664_1178117150673605_6586805385180271902_n.jpg
Các sản phẩm của HTX Mì gạo Hùng Lô được nhiều người ưa chuộng. Ảnh: NVCC

Câu chuyện ông Duy nói không chỉ là chuyện bán hàng. Với người làm nghề, mỗi gói mì được đưa đi xa cũng là một lần cái tên Hùng Lô được biết đến. Bởi vậy, công nghệ không chỉ giúp HTX tìm khách hàng. Nó giúp một sản phẩm vốn sinh ra trong một ngôi làng nhỏ có thêm cơ hội kể câu chuyện của mình.

Từ hạt gạo, nghề làm mì, những phên mì phơi trong nắng đến văn hóa làng nghề, tất cả có thể được giới thiệu rộng hơn thay vì chỉ nằm trong phạm vi Hùng Lô.

Và khi khách hàng ở xa biết đến sản phẩm, yêu cầu đặt ra cũng cao hơn. Sản phẩm phải sạch hơn, ổn định hơn, bao bì phải chuyên nghiệp hơn, thông tin phải rõ ràng hơn. Chuyển đổi số vì thế kéo theo những thay đổi khác trong cách HTX làm nghề.

Máy móc vào làng, người thợ bớt nhọc

3 giờ sáng, khi nhiều người còn chưa thức giấc, những người làm mì ở Hùng Lô đã bắt đầu công việc. Họ được ví như những người “đánh thức bình minh”.

Gạo được tuyển chọn, ngâm, lọc rồi rửa lại trước khi đưa vào máy xay. Bột được nghiền mịn, đưa vào máy đùn tạo sợi, vắt lên giá rồi đem phơi. Tiếng máy xay, máy ép, máy cắt mì hòa với tiếng trò chuyện của người lao động.

Phần lớn lao động là người trong làng. Có những người tuổi đã cao nhưng vẫn gắn bó với nghề. Ngày trước, công việc của họ phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Nắng thì tranh thủ phơi mì, trời mưa lại phải chờ. Bây giờ, hệ thống máy sấy giúp sản xuất chủ động hơn. Một thay đổi khác nằm ở công đoạn tách bột.

Ông Duy kể, trước đây bột phải mất khoảng 3 ngày để xử lý. Trong thời gian đó, bột lên men và tạo ra chất chua. “Ngày trước mà chưa có cái hệ thống máy đó thì là phải 3 ngày thì trong quá trình mà chúng tôi làm ấy thì nó sẽ bị lên men và tự đó nó sẽ tạo ra cái chất chua tự nhiên nó sẽ ảnh hưởng đến cái môi trường chung quanh”, vị Giám đốc HTX kể thêm.

Khi đầu tư hệ thống máy tách bột, thời gian được rút xuống còn khoảng 2 ngày. “Sáng ra chúng tôi bắt đầu mình cho xay bột, xay bột xong là tách khô luôn. Hệ thống đấy nó chỉ ra môi trường nó chỉ là cái nước bình thường nó không có cái chua như ngày trước nữa”, ông Duy nói.

Mỳ gạo Hùng Lô
Quy trình đóng gói các sản phẩm mì gạo Hùng Lô. Ảnh: NVCC

Công nghệ vì thế không thay thế người thợ. Nó giúp người thợ làm nghề đỡ vất vả hơn, chủ động hơn và giảm những tác động không mong muốn đến môi trường. Đó cũng là cách Hùng Lô đang thay đổi từ bên trong, đưa công nghệ vào những khâu mà trước đây người dân phải làm bằng kinh nghiệm và sức người.

Từ món ăn dân dã đến câu chuyện một thương hiệu

Câu chuyện chuyển đổi số của Hùng Lô không dừng ở máy móc. Khi đã có thương hiệu và những kênh bán hàng mới, HTX bắt đầu nghĩ đến việc làm ra những sản phẩm phù hợp hơn với nhiều nhóm khách hàng.

Từ mì gạo truyền thống, HTX phát triển gần 10 dòng sản phẩm như mì gạo, mì phở, mì dưa hấu, mì rau củ quả, miến dong và các hộp mì quà tặng. Một số sản phẩm được làm từ các loại rau củ như rau ngót, bí đỏ. Đó là cách người Hùng Lô thử làm mới nghề cũ.

Sợi mì vẫn phải giữ được cái chất riêng của mì Hùng Lô, nhưng sản phẩm có thêm lựa chọn, bao bì có thêm cách thể hiện và thị trường có thêm những nhóm khách hàng mới. Nhờ chủ động xúc tiến thương mại, quảng bá và tìm kiếm đối tác, sản phẩm ngày càng đi xa hơn.

Từ năm 2024, HTX tiêu thụ khoảng 50-60 tấn mì mỗi tháng, doanh thu đạt hơn 20 tỷ đồng/năm. HTX tạo việc làm thường xuyên cho 35 lao động địa phương, thu nhập bình quân khoảng 6,5 triệu đồng/người/tháng, đồng thời liên kết, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho nhiều hộ làm mì trong khu vực. Đặc biệt, những sợi mì từ sân làng đã bắt đầu vượt qua biên giới. Năm 2024, HTX xuất khẩu 30 tấn mì gạo sang Nhật Bản. Đến tháng 1/2025, thêm 5 tấn mì được đưa sang thị trường Đài Loan (Trung Quốc).

490653594_1188069356345051_7831682985050594624_n.jpg
Mì gạo Hùng Lô nhận Giải thưởng Ngôi Sao HTX năm 2025. Ảnh: NVCC

Sản phẩm mì gạo Hùng Lô được chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia vào tháng 1/2025, bên cạnh nhiều dòng sản phẩm OCOP 4 sao. Nhật Bản hay những thị trường khó tính khác không chỉ cần một sản phẩm ngon. Để đi được tới đó, mì Hùng Lô phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, vệ sinh, quy trình, bao bì và khả năng cung ứng.

Nhìn lại hành trình ấy, những chiếc máy, thương hiệu, bao bì hay việc ứng dụng công nghệ thông tin không phải những câu chuyện riêng rẽ. Chúng cùng giúp một sản phẩm làng nghề thay đổi cách đứng trên thị trường.

Từ chỗ làm mì để bán, người dân Hùng Lô đang học cách làm sản phẩm để đi xa. Rõ ràng, công nghệ không làm ra sợi mì. Hạt gạo, đôi bàn tay người thợ và bí quyết của làng nghề vẫn làm điều đó. Công nghệ chỉ giúp sợi mì ấy được nhìn thấy nhiều hơn, đến với khách hàng thuận tiện hơn và mở thêm những con đường mới tươi sáng hơn.

Nổi bật
      Mới nhất
      Một làng nghề đặc sản ở Phú Thọ dùng cách nào để từ làng 'đi' sang Nhật Bản, Đài Loan?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO