Lãi suất tiết kiệm đồng loạt giảm, gửi 200 triệu đồng nhận được bao nhiêu mỗi tháng?
Sau chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất huy động từ 0,5 điểm phần trăm/năm trở lên đối với các kỳ hạn từ 6 tháng.
Mặt bằng lãi suất bắt đầu phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng, hình thức gửi tại quầy và trực tuyến. Với khoản tiền 200 triệu đồng hoặc 500 triệu đồng, số tiền lãi nhận được có thể chênh lệch đáng kể tùy mức lãi suất và kỳ hạn lựa chọn.
Lãi suất huy động giảm, mặt bằng vẫn phân hóa
Ngày 18/10/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Công văn số 9608, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất tiền gửi niêm yết đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Cơ quan quản lý đồng thời yêu cầu các ngân hàng tập trung giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2 điểm phần trăm/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Đáng chú ý, ngày 21/10, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ban hành Công văn số 9736/NHNN-CSTT, yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng cuối năm 2026 so với mức lãi suất của chính ngân hàng trong kỳ báo cáo từ ngày 11-20/10.
Ngân hàng Nhà nước cho biết có thể xem xét giảm hoặc giao thấp hơn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với những ngân hàng không thực hiện chỉ đạo. Yêu cầu này nhằm tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là tín hiệu cho thấy việc điều chỉnh lãi suất huy động không chỉ là lựa chọn riêng của từng ngân hàng mà còn nằm trong định hướng điều hành chung của cơ quan quản lý.
Khảo sát thực tế cho thấy, làn sóng điều chỉnh diễn ra nhanh chóng. Theo số liệu được công bố trong những ngày 19-20/10, nhiều ngân hàng đã giảm lãi suất huy động, phổ biến khoảng 0,5 điểm phần trăm/năm, một số trường hợp giảm sâu hơn ở những kỳ hạn nhất định.
Chẳng hạn, các ngân hàng được ghi nhận điều chỉnh gồm ACB, TPBank, Sacombank, SeABank, LPBank, BVBank, OCB, Nam A Bank, NCB, VietBank và một số ngân hàng khác.
LPBank giảm lãi suất trên nhiều kỳ hạn, trong khi VietBank hạ 0,5 điểm phần trăm/năm đối với tiền gửi trực tuyến kỳ hạn từ 6-36 tháng. Một số ngân hàng khác cũng điều chỉnh biểu lãi suất theo từng sản phẩm và kỳ hạn.
Tuy nhiên, không phải tất cả kỳ hạn đều giảm đồng loạt. Với tiền gửi ngắn hạn dưới 6 tháng, nhiều ngân hàng vẫn duy trì mức lãi suất niêm yết quanh trần 4,75%/năm. Một số đơn vị có điều chỉnh riêng đối với từng sản phẩm, nhưng xu hướng giảm tập trung rõ hơn ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
Sự khác biệt giữa các ngân hàng vẫn khá lớn. Theo bảng lãi suất được cập nhật ngày 22/10, một số ngân hàng vẫn niêm yết mức lãi suất trực tuyến khá cao ở các kỳ hạn từ 6 tháng.
Tuy nhiên, mức lãi suất giữa các nguồn khảo sát có chênh lệch, có thể do thời điểm cập nhật, sản phẩm tiền gửi và điều kiện áp dụng khác nhau. Vì vậy, người gửi tiền cần kiểm tra trực tiếp biểu lãi suất tại ngân hàng trước khi quyết định.
Lãi suất giữa các ngân hàng chênh lệch đáng kể
Khảo sát ngày 23/10 cũng cho thấy, mức lãi suất khách hàng nhận được còn phụ thuộc vào kỳ hạn, hình thức gửi và điều kiện áp dụng của từng sản phẩm.
Lãi suất tiết kiệm vẫn có sự khác biệt giữa các ngân hàng, cũng như giữa hình thức gửi tại quầy và gửi trực tuyến. Theo bảng lãi suất được khảo sát sáng 23/10, ở kỳ hạn 6 tháng, VPBank niêm yết lãi suất tại quầy ở mức 6,8%/năm và trực tuyến ở mức 7%/năm. Trong nhóm ngân hàng được khảo sát, đây là mức cao nhất ở cả hai hình thức gửi.

Các mức lãi suất tại quầy được ghi nhận ở Sacombank là 5,7%/năm, Techcombank 5,75%/năm, SHB 5,3%/năm, HDBank 4,9%/năm, MB 4,1%/năm và ACB 4%/năm. Với hình thức gửi trực tuyến, các mức tương ứng lần lượt là 6,6%, 6,45%, 5,7%, 5%, 5,2% và 4,4%/năm.
Lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng được khảo sát ngày 23/10/2026
| Ngân hàng | Gửi tại quầy (%/năm) | Gửi trực tuyến (%/năm) |
| VPBank | 6,80 | 7,00 |
| Sacombank | 5,70 | 6,60 |
| Techcombank | 5,75 | 6,45 |
| SHB | 5,30 | 5,70 |
| HDBank | 4,90 | 5,00 |
| MB | 4,10 | 5,20 |
| ACB | 4,00 | 4,40 |
Bảng lãi suất được khảo sát ngày 23/10/2026. Đây là số liệu tham khảo của nhóm ngân hàng nêu trên, không phải bảng xếp hạng toàn thị trường. Lãi suất thực tế có thể khác theo sản phẩm, số tiền gửi, điều kiện khách hàng và thời điểm giao dịch
Bảng trên cho thấy gửi trực tuyến có lãi suất cao hơn gửi tại quầy ở cả bảy ngân hàng được khảo sát, nhưng mức chênh lệch không giống nhau. Chẳng hạn, tại MB, lãi suất trực tuyến kỳ hạn 6 tháng cao hơn mức tại quầy 1,1 điểm phần trăm/năm; tại VPBank, khoảng cách là 0,2 điểm phần trăm/năm.
Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn vào con số lãi suất để quyết định nơi gửi tiền. Khách hàng cần kiểm tra đúng sản phẩm, kỳ hạn, số tiền gửi, phương thức lĩnh lãi và điều kiện đi kèm. Một số chương trình ưu đãi có thể áp dụng cho nhóm khách hàng hoặc khoản tiền gửi đáp ứng yêu cầu riêng, vì vậy không thể mặc nhiên xem mức lãi suất quảng bá là mức mà mọi người gửi đều được hưởng.
Gửi 200 triệu đồng, 500 triệu đồng nhận bao nhiêu tiền lãi?
Với khoản tiền gửi 200 triệu đồng hoặc 500 triệu đồng trong 6 tháng, tiền lãi có thể chênh lệch đáng kể tùy theo lãi suất áp dụng.
Để dễ hình dung, tiền lãi được tính theo công thức:
Tiền lãi = Số tiền gửi × Lãi suất năm × 6/12.
Cách tính dưới đây giả định khách hàng gửi đủ 6 tháng, hưởng lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn và nhận lãi cuối kỳ. Số tiền thực tế có thể thay đổi theo điều khoản của sản phẩm tiền gửi.
| Lãi suất năm | Gửi 200 triệu đồng: lãi sau 6 tháng | Gửi 500 triệu đồng: lãi sau 6 tháng |
| 7,00% | 7.000.000 đồng | 17.500.000 đồng |
| 6,60% | 6.600.000 đồng | 16.500.000 đồng |
| 6,45% | 6.450.000 đồng | 16.125.000 đồng |
| 5,70% | 5.700.000 đồng | 14.250.000 đồng |
| 5,20% | 5.200.000 đồng | 13.000.000 đồng |
| 5,00% | 5.000.000 đồng | 12.500.000 đồng |
| 4,40% | 4.400.000 đồng | 11.000.000 đồng |
| 4,00% | 4.000.000 đồng | 10.000.000 đồng |
Với khoản tiền gửi 200 triệu đồng, mức lãi suất 7%/năm mang lại khoảng 7 triệu đồng sau 6 tháng. Nếu gửi 500 triệu đồng với cùng mức lãi suất, tiền lãi dự kiến là 17,5 triệu đồng.
Trong khi đó, ở mức 4%/năm, khoản tiền gửi 200 triệu đồng chỉ sinh lãi khoảng 4 triệu đồng sau 6 tháng; khoản 500 triệu đồng sinh lãi khoảng 10 triệu đồng. Như vậy, chênh lệch giữa hai mức lãi suất 7% và 4%/năm tương đương 3 triệu đồng đối với khoản gửi 200 triệu đồng, hoặc 7,5 triệu đồng đối với khoản gửi 500 triệu đồng trong cùng kỳ hạn.
Nếu quy đổi bình quân theo tháng, khoản gửi 200 triệu đồng với lãi suất 7%/năm tương đương khoảng 1,17 triệu đồng tiền lãi mỗi tháng; khoản gửi 500 triệu đồng tương đương khoảng 2,92 triệu đồng/tháng. Với lãi suất 4%/năm, hai khoản tiền trên lần lượt tương đương khoảng 667.000 đồng và 1,67 triệu đồng/tháng.
Cần lưu ý, đây chỉ là số tiền lãi bình quân quy đổi để tiện so sánh. Nếu chọn sản phẩm lĩnh lãi cuối kỳ, người gửi không nhận khoản tiền này hằng tháng mà nhận lãi khi đáo hạn theo thỏa thuận với ngân hàng.
Người gửi tiền cần tính toán gì trong giai đoạn lãi suất giảm?
Giới phân tích tài chính nhận dịnh, việc giảm lãi suất huy động có thể làm giảm sức hấp dẫn của tiền gửi tiết kiệm so với thời điểm lãi suất cao hơn. Dù vậy, gửi tiết kiệm vẫn là lựa chọn được nhiều người cân nhắc khi ưu tiên bảo toàn vốn, tính ổn định và khả năng dự tính dòng tiền.
Với người có khoản tiền chưa cần sử dụng trong ngắn hạn, việc lựa chọn kỳ hạn phù hợp sẽ quan trọng không kém việc tìm kiếm mức lãi suất cao. Kỳ hạn dài có thể giúp giữ mức lãi suất đã thỏa thuận trong thời gian gửi, nhưng đổi lại là khả năng linh hoạt sử dụng tiền thấp hơn nếu cần rút trước hạn.
Một cách tiếp cận khác là chia khoản tiền thành nhiều sổ tiết kiệm với kỳ hạn khác nhau. Chẳng hạn, thay vì gửi toàn bộ 500 triệu đồng vào một sổ kỳ hạn 12 tháng, người gửi có thể cân nhắc chia thành các khoản nhỏ hơn, tùy nhu cầu dự phòng và kế hoạch chi tiêu. Cách làm này giúp giảm nguy cơ phải tất toán toàn bộ khoản tiền khi phát sinh nhu cầu đột xuất.
Ngoài ra, cần phân biệt rõ lãi suất niêm yết với mức lãi suất thực tế được áp dụng tại thời điểm mở sổ. Biểu lãi suất có thể thay đổi theo từng ngày, từng sản phẩm và từng nhóm khách hàng. Các chương trình lãi suất cao cũng có thể yêu cầu số tiền gửi tối thiểu hoặc điều kiện riêng.
Ở góc độ thị trường, việc giảm lãi suất huy động được kỳ vọng góp phần tạo dư địa hạ lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng còn phụ thuộc vào khả năng giảm chi phí vốn của ngân hàng, chất lượng tín dụng và mức độ thực thi các gói cho vay ưu đãi.
Đối với người gửi tiền, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang điều chỉnh, việc kiểm tra biểu lãi suất chính thức trước khi gửi tiền sẽ giúp hạn chế nhầm lẫn và đưa ra quyết định phù hợp hơn.



