Tài sản mã hóa

Thách thức nào cho doanh nghiệp Việt Nam khi chuẩn bị lập sàn giao dịch tài sản số?

Bùi Tú • 13/10/2026 07:10

Năm doanh nghiệp đã được chấp thuận về nguyên tắc để chuẩn bị thành lập sàn giao dịch tài sản mã hóa tại Việt Nam, nhưng chặng đường từ chấp thuận đến cấp phép chính thức vẫn còn nhiều điều kiện phải hoàn tất.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam, thách thức lớn nhất không đơn thuần là xây dựng nền tảng một sàn giao dịch, mà là tích hợp đồng bộ công nghệ, lưu ký, an ninh mạng, quản trị rủi ro và tuân thủ pháp lí. Sau khi được cấp phép, các doanh nghiệp còn phải vượt qua bài toán thanh khoản và thuyết phục người dùng chuyển từ những nền tảng quốc tế quen thuộc sang hạ tầng trong nước được quản lí.

TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam
TS. Nguyễn Nhật Minh - giảng viên ngành Kinh tế số, Đại học RMIT Việt Nam

Không chỉ xây dựng sàn giao dịch, mà phải vận hành cả một hệ thống

Việc năm doanh nghiệp được chấp thuận về nguyên tắc để chuẩn bị thành lập sàn giao dịch tài sản mã hóa đánh dấu bước tiến trong quá trình hình thành thị trường có quản lí tại Việt Nam. Tuy nhiên, đây chưa phải là giấy phép cho phép các đơn vị chính thức vận hành. Trước khi đi vào hoạt động, doanh nghiệp vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về vốn, công nghệ, quy trình vận hành và an toàn hệ thống thông tin cấp độ 4.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp này có thể không nằm ở việc xây dựng công nghệ vận hành sàn giao dịch. Một nền tảng có thể được thiết kế để tiếp nhận lệnh mua bán, khớp lệnh và hiển thị giá tài sản. Nhưng một thị trường tài sản mã hóa được quản lí đòi hỏi nhiều hơn thế. “Thách thức thực sự là sự tích hợp về mặt tổ chức”, ông nhận định.

Theo chuyên gia, để vận hành một sàn giao dịch tài sản mã hóa, doanh nghiệp phải xây dựng và kết nối đồng bộ nhiều cấu phần, bao gồm công nghệ giao dịch, lưu kí tài sản, an ninh mạng, xác minh khách hàng, giám sát giao dịch, kiểm soát phòng chống rửa tiền, phân tách tài sản, giải quyết tranh chấp, báo cáo, duy trì hoạt động liên tục và quản trị nội bộ.

Những cấu phần này không thể hoạt động độc lập hoặc chỉ được hoàn thiện trên hồ sơ. Chúng phải liên kết thành một hệ thống thống nhất, bảo đảm giao dịch được thực hiện an toàn, tài sản của khách hàng được bảo vệ và các hoạt động bất thường có thể được phát hiện, xử lí kịp thời.

Chẳng hạn, hệ thống xác minh khách hàng cần kết nối với quy trình giám sát giao dịch và phòng chống rửa tiền. Hoạt động lưu kí phải bảo đảm khả năng kiểm soát, đối soát và tách biệt tài sản của khách hàng với tài sản của doanh nghiệp. Trong khi đó, hệ thống an ninh mạng không chỉ bảo vệ nền tảng giao dịch mà còn phải bảo vệ dữ liệu, thông tin định danh và tài sản số trước nguy cơ tấn công hoặc truy cập trái phép.

Một điểm khó khác là yêu cầu duy trì hoạt động liên tục. Sàn giao dịch tài sản mã hóa có thể hoạt động xuyên suốt ngày đêm, không giống nhiều thị trường tài chính truyền thống có khung giờ giao dịch cố định. Sự cố kĩ thuật, gián đoạn kết nối hoặc mất khả năng truy cập tài sản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người dùng và uy tín của doanh nghiệp.

Vì vậy, năng lực cạnh tranh của các đơn vị tham gia thị trường sẽ không chỉ được quyết định bởi giao diện dễ sử dụng hay tốc độ xử lí lệnh. Quan trọng hơn là khả năng xây dựng một tổ chức có đủ năng lực vận hành, kiểm soát rủi ro và tuân thủ các tiêu chuẩn quản lí ở quy mô lớn.

Bài toán thanh khoản: Người dùng có sẵn sàng chuyển sang sàn trong nước?

Nếu đáp ứng các điều kiện để được cấp phép là bài kiểm tra đầu tiên, thì xây dựng thanh khoản đáng tin cậy sẽ là thách thức tiếp theo sau khi các sàn chính thức hoạt động.

Việt Nam không phải thị trường mới bắt đầu tiếp cận tài sản số. Theo chỉ số năm 2025 của Chainalysis được ông Minh dẫn lại, Việt Nam đứng thứ tư toàn cầu về mức độ chấp nhận tài sản mã hóa. Điều này cho thấy nhu cầu và thói quen sử dụng tài sản số đã hình thành ở quy mô đáng kể.

Tuy nhiên, đây cũng là một nghịch lí đối với những doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập thị trường. Họ không bước vào một không gian hoàn toàn mới, nơi người dùng đang chờ đợi một nền tảng giao dịch trong nước. Thay vào đó, các sàn mới phải cạnh tranh với những nền tảng quốc tế đã có cộng đồng người dùng, hệ sinh thái sản phẩm và thanh khoản được hình thành từ trước.

“Các nền tảng trong nước mới sẽ không cạnh tranh trong một thị trường trống, mà phải cạnh tranh với thói quen của người dùng đã hình thành và các nền tảng quốc tế hiện hữu”, ông Minh phân tích.

Thanh khoản là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với một sàn giao dịch. Người dùng không chỉ quan tâm đến việc có thể mở tài khoản hay mua bán tài sản, mà còn cần biết liệu họ có thể thực hiện giao dịch với mức giá hợp lí, khối lượng đủ lớn và tốc độ khớp lệnh ổn định hay không.

Một sàn có nhiều người đăng kí nhưng khối lượng giao dịch thấp chưa chắc đã tạo được thị trường hiệu quả. Thanh khoản yếu có thể dẫn đến chênh lệch giá mua - bán lớn, khó thực hiện giao dịch quy mô lớn và gia tăng chi phí cho nhà đầu tư. Điều này khiến người dùng có xu hướng quay lại các nền tảng đã quen thuộc, nơi họ tìm thấy nhiều đối tác giao dịch hơn.

Đối với doanh nghiệp trong nước, thách thức vì thế không chỉ là thu hút người dùng mới mà còn phải thuyết phục những người đã có tài khoản trên các sàn quốc tế thay đổi hành vi. Đây là quá trình đòi hỏi thời gian và lợi thế đủ rõ ràng.

Một nền tảng được cấp phép trong nước có thể tạo ra giá trị thông qua môi trường pháp lí minh bạch hơn, cơ chế bảo vệ khách hàng, quy trình định danh và giám sát giao dịch phù hợp với quy định Việt Nam. Tuy nhiên, những lợi thế này cần được chuyển hóa thành trải nghiệm thực tế để người dùng cảm nhận được.

Nếu việc tuân thủ chỉ làm tăng thủ tục, kéo dài thời gian giao dịch hoặc hạn chế sản phẩm mà không đi kèm giá trị bảo vệ tương xứng, các sàn trong nước sẽ khó thuyết phục người dùng chuyển đổi. Ngược lại, nếu có thể kết hợp sự an toàn, minh bạch với chất lượng dịch vụ và thanh khoản đủ tốt, đây sẽ là cơ sở để hình thành niềm tin thị trường.

Hai bài kiểm tra quyết định tương lai thị trường

Từ góc nhìn của Tiến sĩ Nguyễn Nhật Minh, các doanh nghiệp muốn tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam sẽ phải vượt qua hai bài kiểm tra nối tiếp nhau.

“Trước khi ra mắt, các doanh nghiệp có đáp ứng được các tiêu chuẩn ở cấp độ tổ chức hay không? Sau khi ra mắt, họ có thể thuyết phục người dùng rằng hạ tầng trong nước được quản lí mang lại đủ độ tin cậy, thanh khoản và giá trị để thay đổi hành vi hiện tại hay không?”, ông đặt vấn đề.

Hai bài kiểm tra này có mối liên hệ chặt chẽ. Một doanh nghiệp có thể hoàn tất các điều kiện về vốn, công nghệ và an toàn hệ thống để được cấp phép, nhưng điều đó chưa bảo đảm sàn giao dịch sẽ thu hút được người dùng hoặc tạo ra thanh khoản bền vững. Ngược lại, một nền tảng có lượng người dùng lớn cũng không thể được xem là đủ năng lực nếu thiếu cơ chế bảo vệ tài sản, kiểm soát rủi ro và tuân thủ quy định.

Điều này đặt ra yêu cầu về cách nhìn nhận hiệu quả của chính sách thí điểm. Số lượng sàn được cấp phép hay tốc độ đưa nền tảng vào hoạt động chỉ là những chỉ dấu ban đầu. Về dài hạn, chất lượng vận hành, mức độ minh bạch, khả năng bảo vệ nhà đầu tư và sự hình thành thanh khoản thực chất mới là những yếu tố quyết định.

Đối với cơ quan quản lí, việc xây dựng thị trường có quản lí cũng không nên chỉ tập trung vào điều kiện cấp phép ban đầu. Cần có cơ chế giám sát liên tục, yêu cầu báo cáo và kiểm tra định kì, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp khi xảy ra sự cố. Đặc biệt, các quy định về lưu kí, tách biệt tài sản khách hàng và xử lí khiếu nại cần được thực thi nhất quán để củng cố niềm tin.

Với doanh nghiệp, bài toán không đơn giản là hoàn thành một danh sách tiêu chí để được bước vào thị trường. Họ phải chứng minh năng lực vận hành một hạ tầng tài chính số có độ phức tạp cao, đồng thời tạo ra giá trị đủ sức cạnh tranh với các nền tảng đã hiện diện.

Thị trường tài sản mã hóa Việt Nam vì thế đang đứng trước hai yêu cầu song hành: xây dựng hàng rào an toàn đủ vững để hạn chế rủi ro, nhưng cũng phải tạo ra một hệ sinh thái đủ hấp dẫn để thu hút dòng vốn và người dùng. Nếu chỉ làm tốt một trong hai, thị trường khó phát triển bền vững. Thành công sẽ không được quyết định đơn thuần bởi việc có bao nhiêu sàn giao dịch ra đời, mà bởi liệu những sàn đó có trở thành hạ tầng đáng tin cậy để người dùng lựa chọn hay không.

Có 5/7 hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa được Bộ Tài chính đánh giá đầy đủ, hợp lệ.

Thứ nhất là Công ty CP Sàn Giao dịch tài sản mã hóa VIX (VIXEX): vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng.

Thứ hai là Công ty CP Sàn Giao dịch tài sản mã hóa Lộc Phát Việt Nam (LPEX): vốn điều lệ 6,8 tỉ đồng.

Thứ ba là Công ty CP Sàn Giao dịch tài sản mã hóa Việt Nam Thịnh Vượng (CAEX): vốn điều lệ 25 tỉ đồng.

Thứ tư là Công ty CP Sàn Giao dịch tài sản mã hóa Techcom (TCEX): vốn điều lệ 101 tỉ đồng.

Cuối cùng là Công ty CP Tài sản số Việt Nam: vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng.

Nổi bật
      Mới nhất
      Thách thức nào cho doanh nghiệp Việt Nam khi chuẩn bị lập sàn giao dịch tài sản số?
      • Mặc định

      POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO